- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2020/HS-ST Ngày: 18/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Nghiệp Hồng; Bà Nguyễn Thị Minh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Xuân Hà - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Ông Trần Vi Hải - Kiểm sát viên. Ngày 18 tháng 11 năm 2020, tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2020, đối với bị cáo: Võ Việt H; tên gọi khác: không có; sinh ngày 20/12/1976 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký thường trú: đường T, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn B và bà Nguyễn Thị D; có vợ và một con; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2018 đến ngày 16/4/2018 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo bỏ trốn; ngày 14/8/2020 bị bắt theo quyết định truy nã; (Có mặt).
- Bị hại: Chị Thị Tuyết M, sinh năm 1996; địa chỉ: đường M, Phường 11, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 06 giờ ngày 13/4/2018, Võ Việt H đón xe buýt từ nhà đến nhà thi đấu thể dục thể thao Phú Thọ, đường Lý Thường Kiệt, Phường 15, Quận 11 để xem thi đấu thể thao. Khoảng 07 giờ 30, H đi bộ quanh khu vực sân bóng rổ thì phát hiện có nhiều balô, túi xách để trên ghế đá, bên cạnh có chị Trần Thị Diễm Trinh đang ngồi trông giữ, H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Lợi dụng lúc chị Trinh không để ý, H đến lấy trộm 01 túi xách màu xanh rồi đi bộ ra hướng cổng đường Lý Thường Kiệt. Lúc này chị Trinh phát hiện và tri hô nên H bỏ chạy thì bị người dân đuổi theo bắt giữ giao cho Công an Phường 15, Quận 11 lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành trưng cầu định giá tài sản bị chiếm đoạt. Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 30/KLĐGTS ngày 16/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 11 kết luận: 01 máy điện thoại di động hiệu Oppo Neo 7 màu trắng, mua năm 2017 trị giá 3.500.000 đồng; 01 túi xách màu xanh không nhãn hiệu, mua năm 2017 trị giá 70.000 đồng. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Võ Việt H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Võ Việt H bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng H đã bỏ trốn. Ngày 02/5/2018, Công an Quận 11 ra Quyết định truy nã số 08/QĐ-CSĐT-ĐTTH đối với H. Đến ngày 14/8/2020, H bị Công an phường Tân Thới Nhất, Quận 12 bắt theo quyết định truy nã giao Công an Quận 11 xử lý. Vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:
- Tài sản bị chiếm đoạt là 01 túi xách màu xanh không nhãn hiệu và 01 điện thoại di động hiệu Oppo Neo 7 màu trắng là tài sản hợp pháp của chị Thị Tuyết M. Công an Phường 15, Quận 11 đã lập biên bản trao trả lại cho chị M, chị M đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám đen là tài sản cá nhân của bị cáo H. Bản Cáo trạng số 96/CT-VKSQ11 ngày 19 tháng 10 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã truy tố bị cáo Võ Việt H tội danh “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, bị cáo Võ Việt H có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù; đề nghị xử lý vật chứng như sau: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám đen là tài sản cá nhân của bị cáo H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 07 giờ 30 ngày 13/4/2018, tại nhà thi đấu thể dục thể thao Phú Thọ, đường Lý Thường Kiệt, Phường 15, Quận 11, bị cáo Võ Việt H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 túi xách bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Oppo Neo 7. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.570.000 đồng của chị Thị Tuyết M. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì tính tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. [2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không có. [3] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- 01 túi xách màu xanh không nhãn hiệu và 01 điện thoại di động hiệu Oppo Neo 7 màu trắng, Công an Phường 15, Quận 11 đã lập biên bản trao trả lại cho chủ sở hữu. Chị Thị Tuyết M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét;
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám đen là tài sản cá nhân của bị cáo H không liên quan đến vụ án. [4] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tuyên bố bị cáo Võ Việt H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Võ Việt H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2020. Thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/4/2018 đến ngày 16/4/2018 được trừ vào thời gian chấp hành án. Căn cứ vào Điều 46 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Trả lại cho bị cáo Võ Việt H 01 máy điện thoại di động hiệu Nokia màu xám đen (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 64/ĐTTH ngày 23/4/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11). Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo pH chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND - VKSND TPHCM;
(Đã ký)
- Sở Tư pháp TPHCM;
- PC 27 - CA TPHCM;
- VKSND Q.11;
- Công an Q.11;
- Chi cục THADS Q.11;
- Những người tham gia tố tụng;
Nguyễn Thanh Phúc
- Lưu hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 10 phút, ngày 18 tháng 11 năm 2020. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Thư; Ông Trần Nghiệp Hồng. Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2020, đối với: Bị cáo Võ Việt H; sinh năm: 1976, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất. 2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Việt H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất. 3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Việt H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2020. Thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/4/2018 đến ngày 16/4/2018 được trừ vào thời gian chấp hành án. Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất. 4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Trả lại cho bị cáo Võ Việt H 01 máy điện thoại di động hiệu Nokia màu xám đen (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 64/ĐTTH ngày 23/4/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11). Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất. 5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo pH chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất. 6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất. Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 18 tháng 11 năm 2020. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Nghiệp Hồng – Nguyễn Thị Minh Thư
Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– Số: /2020/HSST-QĐTG
Quận 11, ngày 18 tháng 11 năm 2020
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc. Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Minh Thư;
- Ông Trần Nghiệp Hồng. Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Biên bản nghị án ngày 18 tháng 11 năm 2020 của Hội đồng xét xử sơ thẩm; Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1 Tạm giam bị cáo: Võ Việt H, sinh năm 1976; nơi sinh: Tỉnh Thừa Thiên Huế; hộ khẩu thường trú: 194 đường Tân Thới Nhất 1, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định. Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án. Điều 2 Nhà tạm giữ Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND Q.11; - Nhà tạm giữ CAQ11; - - Bị cáo; - - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phúc |