vanban.org

Bản án 95/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con khi ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 95/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 23/6/2020.
V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Phước Công;

2. Ông Nguyễn Văn Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 173/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2020/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 177/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Châu Thị MộngT, sinh năm 1989; địa chỉ: số 95, ấp KQ1, xã KT, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp LP 2, xã LĐ B, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, biên bản không hòa giải được và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Châu Thị Mộng T trình bày: Chị và anh L do quen biết và được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2010, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã LĐ B, huyện CM, tỉnh An Giang. Anh chị sống chung hạnh phúc đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, trong cuộc sống thường xuyên cự cãi, tính tình không phù hợp nhau, anh L chỉ biết lo ăn chơi, không lo cho gia đình. Anh chị không còn sống chung từ đó đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn chị yêu cầu ly hôn với anh L.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hữu L, sinh ngày 23/01/2010. Hiện cháu L đang sống chung với chịT. Khi ly hôn chịT yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Châu Thị MộngT xác định không có.

- Về nợ chung: Chị Châu Thị MộngT xác định không có.

Anh Nguyễn Văn L đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị vắng mặt, cũng như không tham gia các phiên hòa giải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Châu Thị MộngT khởi kiện anh Nguyễn Văn L cư trú ấp L P 2, xã LĐ B, huyện CM, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện CM thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, phù hợp theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Văn L đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh L.

[2]. Về hôn nhân: ChịT và anh L sống chung với nhau vào năm 2010 anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã LĐ B, huyện CM, tỉnh An Giang nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống do anh, chị bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, anh L không lo làm ăn, chỉ biết ăn chơi, chịT và anh L không còn sống chung từ cuối năm 2017 cho đến nay, như vậy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung giữa anh L và chịT không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chịT yêu cầu ly hôn với anh L, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình “ Khi vợ hoặc chồng xin ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn….” Tại phiên tòa, chịT xác định tình cảm không còn. Do đó, yêu cầu ly hôn của chịT là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chịT.

[3]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hữu L, sinh ngày 23/01/2010. Hiện cháu L đang sống chung với chịT. Khi ly hôn chịT yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền L của con chưa thành niên, hiện nay cháu L sống ổn định với chịT vẫn phát triển tốt về thể chất và tinh thần, anh L cũng không có ý kiến phản đối. Trong quá trình làm việc Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến và nguyện vọng của cháu L thì cháu có nguyện vọng sống với chị T, anh L cũng không có ý kiến phản đối. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu L cho chịT tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình “ Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền L về mọi mặt của con ; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, chị Châu Thị Mộng T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về tài sản chung: Chị Châu Thị Mộng T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Về nợ chung: Chị Châu Thị Mộng T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ghi nhận chịT xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chịT và anh L trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Châu Thị MộngT phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 228, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Châu Thị Mộng T.

- Về hôn nhân: Chị Châu Thị MộngT được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Giấy chứng nhận kết hôn số 69 quyển số 01 ngày 16/4/2010 của Ủy ban nhân xã LĐ B, huyện CM, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp Lý.

- Về con chung: Chị Châu Thị Mộng T được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hữu L, sinh ngày 23/01/2010. Anh Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Châu Thị Mộng T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Văn L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì L ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung: Chị Châu Thị MộngT xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Châu Thị Mộng T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ghi nhận chị T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của chịT và anh L trong thời kỳ hôn nhân thì anh, chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí: Chị Châu Thị Mộng T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008061 ngày 17.02.2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh An Giang. Chị Châu Thị Mộng T không phải nộp thêm.

Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ