- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trƣơng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2018/HSST Ngày: 28/8/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thành Ngôn.
2. Bà Phan Hoàng Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Thái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2018/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2018/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:
Trƣơng Văn H, sinh ngày 25/3/1998 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi đăng ký HKTT: Ấp 2, xã T, huyện VC, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Lô 8, tổ 9, khóm Đ, phường DT, thành phố LX, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Học lực: 7/12; Cha: Không xác định; Mẹ: Trương Thị Kim T (chết); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/4/2018 cho đến nay.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1951; địa chỉ: Lô 8, tổ 9, khóm Đ, phường DT, thành phố LX, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Trang 1
Trương Văn H sống chung nhà với ông Lê Văn T và bà Huỳnh Thị N (em ruột của bà ngoại H) tại Lô 8, tổ 9, khóm Đ, phường DT. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 30/4/2018, H thấy bà N ra khỏi nhà còn ông T bị bệnh tai biến nằm ngủ ở phòng khách H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định này, H vào phòng của ông T, bà N dùng tua vít và kềm cạy khóa cửa tủ sắt lục túi vải màu nâu lấy 01 sợi dây chuyền vàng 18k, 02 chiếc nhẫn vàng 18k, trong đó có 01 nhẫn đính đá màu đỏ, 6.000.000 đồng và 01 chìa khóa xe mô tô. Sau đó, H ra phòng khách mở khóa xe mô tô biển số 67B2-170.37 điều khiển đến thành phố Cần Thơ bán chiếc nhẫn vàng 18k có đính đá màu đỏ cho tiệm vàng không rõ biển hiệu, địa chỉ với giá 2.300.000 đồng. Đến 16 giờ cùng ngày, H đến Công an phường Đông Xuyên đầu thú, giao nộp xe mô tô, nhẫn, dây chuyền vàng và 6.000.000 đồng.
Kết luận định giá tà sản số 48/KL.HĐ ngày 30/4/2018 và số 52 ngày 10/7/2018 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, xác đinh: 01 xe mô tô 67B2-170.37, 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 1,3 chỉ, 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 0,7 chỉ và 01 dây chuyền vàng 18k trọng lượng 2,06 chỉ có tổng trị giá 28.789.710 đồng,
Tại bản cáo trạng số: 83/CT-VKS ngày 16/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang truy tố bị cáo Trƣơng Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang luận tội:
Bị cáo Trương Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung cáo trạng đã công bố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp lời khai của bị hại và các chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập hợp pháp được kiểm chứng tại phiên tòa hôm nay. Do đó, có đủ căn cứ khẳng định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện khắc phục hậu quả; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú và bị hại cũng có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 H đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo bằng thời gian tạm giam.
Về xử lý vật chứng. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106; Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đề nghị:
Trang 2
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây búa bằng kim loại, cán bằng gỗ dài 23cm; 01 (một) cây kềm bằng kim loại, dài 20cm, tay cây bọc nhựa màu đỏ - đen, trên có dòng chữ VINATOOL; 01 (một) cây tua vít bằng kim loại, dài 12cm, cán bằng nhựa màu xanh trên có dòng chữ INDY HAND TOOLS.
- Bị cáo Trương Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về tố tụng: Bị hại bà Huỳnh Thị N đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt; tuy nhiên, bà N đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do đã nhận đủ tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N việc vắng mặt của bà N không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án; do đó, Tòa án không hoãn phiên tòa hôm nay theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Về trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trương Văn H sinh ngày 25/3/1998, tại thời điểm chiếm đoạt tài sản của chị Huỳnh Thị N đã trên 18 tuổi; theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm đã thực hiện H việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đối với bị cáo là có căn cứ.
Bị cáo Trương Văn H khai nhận vào ngày 30/4/2018, bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của bà N H đã dùng tua vít và kềm cạy khóa cửa tủ sắt lấy 01 sợi dây chuyền vàng 18k, 02 chiếc nhẫn vàng 18k, trọng đó có 01 nhẫn đính đá màu đỏ, 6.000.000 đồng và 01 chìa khóa xe mô tô. Và lấy 01 xe mô tô biển số 67B2-170.37 điều khiển đến thành phố Cần Thơ bán chiếc nhẫn có đính đá màu đỏ cho tiềm vàng và đến 16 giờ cùng ngày, H đến Công an phường Đông Xuyên đầu thú.
Kết luận định giá tài sản số 48/KL.HĐ ngày 30/4/2018 và số 52 ngày 10/7/2017 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, xác định: 01 xe mô tô biển số 67B2-170.37, 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 1,3 chỉ, 01 nhẫn vàng 18k trọng lượng 0,7 chỉ và 01 dây chuyền vàng 18k trọng lượng 2,08 chỉ có tổng trị giá 28.789.710 đồng.
Luật quy định người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ căn cứ kết luận bị cáo Trương Văn H đã phạm tội.
Trang 3
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ H được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ:
Bị cáo Trương Văn H là người đã trưởng thành H nhận thức và điều khiển được hành vi của mình; bị cáo có sức khỏe để tạo ra của cải chính đáng nhưng do lười lao động, sợ cực nhọc nhưng lại muốn có tiền tiêu xài nhanh chóng H bị cáo đã cố tình phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây hoang mang cho mọi người khi đang phải mưu sinh, ảnh hưởng đến đời sống bình thường của xã hội.
Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội; đồng thời góp phần vào việc phòng chống tội phạm.
Tuy nhiên, có xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại H thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú tại cơ quan Công an đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 H cần được xem xét khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Thấy, bị cáo không có tiền sự, tiền án và cũng nhất thời phạm tội H thời gian tạm giam vừa qua cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo H không cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội.
Về xử lý vật chứng:
Đối với: 01 (một) cây búa bằng kim loại, cán bằng gỗ dài 23cm; 01 (một) cây kềm bằng kim loại, dài 20cm, tay cây bọc nhựa màu đỏ - đen, trên có dòng chữ VINATOOL; 01 (một) cây tua vít bằng kim loại, dài 12cm, cán bằng nhựa màu xanh trên có dòng chữ INDY HAND TOOLS. Đây là những phương tiện, công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội H chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên về xử lý vật chứng.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại bà Huỳnh Thị N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác H không xét đến.
Về án phí sơ thẩm:
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của luật.
Vì các lẽ trên,
Trang 4
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trƣơng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Trƣơng Văn H 04 (bốn) tháng tù (bằng với thời gian tạm giam).
Thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2018.
Trả tự do ngày tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
[2] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106; Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây búa bằng kim loại, cán bằng gỗ dài 23cm; 01 (một) cây kềm bằng kim loại, dài 20cm, tay cây bọc nhựa màu đỏ - đen, trên có dòng chữ VINATOOL; 01 (một) cây tua vít bằng kim loại, dài 12cm, cán bằng nhựa màu xanh trên có dòng chữ INDY HAND TOOLS. (Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/8/2018)
[3] Về án phí:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Bị cáo nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án theo quy định của luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh AG; - VKSND TPLX; - Công an TPLX; - THA DS TPLX; - Văn phòng; - Lưu hồ sơ./ HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Vũ Trang 5 THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Vũ Trang 6 |