vanban.org

Bản án 95/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 21/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về dân sự: Anh Hà Văn Th, chị Nguyễn Thị S đã nhận lại tài sản, anh Nguyễn Văn M không yêu cầu gì nên Tòa án không giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Hà Văn D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, anh Minh và người đại diện của anh Minh có quyền kháng cáo lên Toà án…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Duyệt - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về dân sự: Anh Hà Văn Th, chị Nguyễn Thị S đã nhận lại tài sản, anh Nguyễn Văn M không yêu cầu gì nên Tòa án không giải quyết.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƯU
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95 /2018/HSST
Ngày 21 - 11 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thắng Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Đức Vĩ và bà Hồ Thị Thúy Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lệ Giang, thư ký TAND huyện Quỳnh Lưu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Phương Quỳnh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Hà Văn D, sinh ngày 12/01/1985 tại huyện B, tỉnh Th. Nơi cư trú: Xóm 5, xã QL, huyện L, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Ố (chết) và bà Vi Thị T; có vợ Hồ Thị L và 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 9 năm 2018 đến nay.Có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Hà Văn Th, sinh năm 1985 Nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã VN, huyện B, Thanh Hóa.

- Địa chỉ tạm trú: Xóm M, xã T Th, huyện L, Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1973

- Địa chỉ: Xóm ĐV, xã B, huyện L, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm ĐV, xã B, huyện L, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của Nguyễn Văn M: Ông Nguyễn Văn Đ (bố đẻ); địa chỉ: Xóm ĐV, xã B, huyện L, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt. Người phiên dịch cho Nguyễn Văn M (do bị câm điếc bẩm sinh): Cô Doãn Thị X; nghề nghiệp: Giáo viên; công tác tại: Trung tâm giáo dục dạy nghề người khuyết tật Nghệ An.Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Hồ Hữu Gi, sinh năm 1984 Địa chỉ: Xóm ĐH, xã B, huyện L, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

2. Anh Hoàng Xuân V, sinh năm 1966 Địa chỉ: Xóm ĐT, xã B, huyện L, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 11 tháng 9 năm 2018 Hà Văn Dtrên đường đi làm về có vào quán nước của anh Nguyễn Văn M ở khu vực bãi tắm xã B được Nguyễn Văn M (bị câm điếc bẩm sinh) rủ đánh bài ăn tiền nhưng do không có tiền nên D đưa xe máy đến xã TTh, huyện L bán được 700.000 đồng. Sau đó D đi bộ đến gặp Hà Văn Th đang làm tại nhà máy sản xuất đá lạnh ở xã Tiến Thủy hỏi mượn xe máy của Thân đi đây tý. Thân đồng ý cho D mượn xe máy nhãn hiệu Ablade màu đỏ đen, BKS 36G5-16965 của Thân và nói “Cậu đi nhanh về để cháu đi có công việc”. Sau đó D đi đến quán nước của Nguyễn Văn M cùng đánh bạc với Minh và hai nam thanh niên không quen biết. Khi đánh bạc hết tiền D nảy sinh ý định cầm cắm xe đã mượn của Th để lấy tiền đánh bạc tiếp. D cắm xe mượn của Thân cho M lấy 3.000.000 đồng và sử dụng tiền cầm cắm xe tiếp tục đánh bạc với hai người không quen biết. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, D thua hết 3.000.000 đồng, xin vay M thêm 2.000.000đồng nhưng M không cho nên D đi xe lai về nhà ở xã QL. Khi đi đến khu vực Chợ Lều thuộc xã B, huyện L D xuống xe đi bộ đến đoạn đồng ruộng thuộc xóm ĐH, xã B thì thấy có một xe máy nhãn hiệu Wave RS màu trắng đen, BKS 37L1- 34781 dựng bên đường không có người trông coi, chìa khóa đang cắm trên ổ khóa điện. D đi đến nổ máy lấy trộm xe chạy hướng xuống biển nhưng bị chị Nguyễn Thị S (chủ xe) đang dọn cỏ dưới ruộng phát hiện tri hô, một số người dân đuổi theo bắt giữ D, xe và thu giữ trong người D máy điện thoại di động hiệu FPT màu đen giao cho công an Đồn Bãi Ngang.

Ngày 11/9/2018 Nguyễn Văn M giao nộp lại xe máy Ablade BKS 36G5-16965 cho Đồn Công an Bãi Ngang Công an huyện Quỳnh Lưu.

Kết luận định giá tài sản số 83 ngày 12/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Quỳnh Lưu: Xe máy Ablade BKS 36G5-16965 giá trị 9.000.000 đồng; xe máy Wave RS màu đen trắng BKS 37L1-34781 giá trị 12.000.000đồng.

Công An huyện Quỳnh Lưu đã trả lại xe máy cho chị Nguyễn Thị S và anh Hà Văn Th. Máy điện thoại nhãn hiệu FPT màu đen đã trả lại cho Hà Văn D. Về dân sự, chị Nguyễn Thị S và anh Hà Văn Th không yêu cầu bồi thường gì. Anh Nguyễn Văn M không yêu cầu D bồi thường về dân sự.

Bản cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 01/11/2018,Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An truy tố Hà Văn D về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Hà Văn D phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, Điều 51, 55 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt Hà Văn D từ 09 đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; từ 06 đến 09 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt chung hai tội từ 15 đến 21 tháng tù. Không phạt tiền bổ sung.Về dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên miễn xét. Về vật chứng bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì nên không xét. Về án phí, bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa Hà Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Hà Văn D thấy hành vi là sai, xin hội đồng xét xử cho mức án nhẹ nhất để sớm về đoàn tụ với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hỏi công khai tại phiên toà, bị cáo Hà Văn D khai nhận hành vi mượn xe mô tô Ablade BKS 36G5-16965 của anh Th để đi chơi nhưng sau khi thua bạc tự ý cắm xe lấy tiền đánh bài không trả lại xe cho anh Th như đã hẹn. Trên đường đi về bị cáo đã lấy trộm xe máy Wave RS màu đen trắng BKS 37L1-34781 của chị Nguyễn Thị S để bên đường không người trông coi như bản cáo trạng kết luận. Đối chiếu lời nhận tội của bị cáo, lời trình bày của bị hại anh Th, chị S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh M và các tài liệu điều tra, tang vật chứng thu hồi giao trả là phù hợp về thời gian, địa điểm và nội dung diễn biến sự kiện phạm tội đã xảy ra. Có đủ cơ sở kết luận trưa ngày 11/9/2019 Hà Văn D mượn xe máy của Hà Văn Th đi chơi sau đó tự ý đem cầm cắm lấy tiền ăn chơi, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 9.000.000 đồng và trên đường đi về nhà đã lấy trộm xe máy của chị Nguyễn Thị S có giá trị 12.000.000đồng. Do đó bản cáo trạng truy tố Hà Văn D phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự và tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng.

Hành vi phạm tội của bị cáo không có tình tiết tăng nặng; có các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên giảm nhẹ đáng kể hình phạt cũng đủ nghiêm, nhưng cần thiết phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe người khác ý thức tuân thủ pháp luật.

Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bị hại là có căn cứ.

Về dân sự: Trong quá trình điều tra chị Nguyễn Thị S và anh Hà Văn Th có đơn trình bày đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì (BL 51,52) nên miễn xét. Anh Nguyễn Văn M khi nhận cầm xe máy không biết xe là tài sản của người khác nên giao dịch cầm tài sản không chính chủ là giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật nên các bên phải hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự. Quá trình điều tra anh M không yêu cầu trả lại tiền (BL97), anh M vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án không giải quyết về hậu quả trong vụ án này.

Đối với lời khai của Hà Văn D tham gia đánh bạc với Nguyễn Văn M và hai nam thanh niên lạ mặt vào ngày 11/9/2018. Quá trình điều tra chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của hai nam thanh niên, Nguyễn Văn M không thừa nhận việc đánh bạc, Công an huyện Quỳnh Lưu tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Bị cáo Hà Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b khoản 1 Điều 175; điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt Hà Văn D 09 (chín) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" và 07 (bảy) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc Hà Văn D phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 11 tháng 9 năm 2018).

2. Về dân sự: Anh Hà Văn Th, chị Nguyễn Thị S đã nhận lại tài sản, anh Nguyễn Văn M không yêu cầu gì nên Tòa án không giải quyết.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Hà Văn D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, anh Minh và người đại diện của anh Minh có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ