- Tranh chấp gì? Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
- Căn cứ chính? Điều 167 Luật Đất đai; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 389 Bộ luật Dân sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2018/DS-PT Ngày: 27 - 6 - 2018 V/v: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự
Các Thẩm phán:
Ông Trương Công Thi
Ông P
- Thư ký phiên tòa:
, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông
, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 109/2018/TLPT-DS ngày 14 tháng 3 năm 2018 về việc: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2018/DS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2018/QĐ-PT ngày 10 - 5 - 2018, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ông Nguyễn Kim Th, sinh năm 1935 và bà Ngô Thị Th1, sinh năm 1939.
Địa chỉ: 84 đường N, phường B1, thị xã A, tỉnh Bình Định.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T.
Địa chỉ: Thôn B3 02, xã B2, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: số 02 đường T, tổ dân phố 06, phường A2, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
2. Phòng Công chứng số X tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: số 02 đường Q, phường A1, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
*
: nguyên đơn bà Ngô Thị Th1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Kim Th và bà Ngô Thị Th1 trình bày:
Bà Ngô Thị Th1 và ông Nguyễn Kim Th là chủ sử dụng thửa đất số 229, tờ bản đồ số 27, diện tích 2.050 m2 tại xã B2, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, được UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 534196, ngày 10/01/2012.
Ngày 24/02/2014 con trai bà là Nguyễn Văn T đã tự ý đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này đến Phòng công chứng số X tỉnh Đắk Lắk tại thị xã B để lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là ông Nguyễn Kim Th, bà Ngô Thị Th1 và bên nhận tặng cho là ông Nguyễn Văn T, hợp đồng được công chứng do Công chứng viên Trần Trọng V ký công chứng số 536, quyển số 01/2014/TP/CC - SCC/HĐGD. Tuy nhiên, dấu vân tay điểm chỉ ở mục tặng cho trong hợp đồng không phải là dấu vân tay của vợ chồng tôi, chúng tôi chưa từng đến Phòng công chứng số X tỉnh Đắk Lắk và chưa từng ký vào hợp đồng tặng cho. Trên cơ sở hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được lập khống vào ngày 23/5/2014, anh Nguyễn Văn T đã được UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 090735 ngày 23 tháng 5 năm 2014.
Ông, bà đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk giải quyết:
- Tuyên
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 536, quyển số 01/2014/TP/CC-SCC/HĐGD giữa bên tặng cho là Nguyễn Kim Th, Ngô Thị Th1 và bên nhận tặng cho là Nguyễn Văn T vô hiệu, đồng thời giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, cụ thể là buộc anh Tài phải trả lại thửa đất số 229, tờ bản đồ số 27, diện tích 2.050 m2.
- Thu hồi và hủy bỏ giá trị pháp lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 090735 do UBND thị xã B cấp ngày 23/5/2014 mang tên Nguyễn Văn T, đồng th yêu cầu UBND thị xã B
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 534196, do UBND thị xã B cấp ngày 10/01/2012 mang tên vợ chồng tôi.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Vào năm 2013 cha mẹ tôi
à Ngô Thị Th1 và ông Nguyễn Kim Th có cùng tôi đến Phòng công chứng số X, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk để cha mẹ tôi tặng cho tôi quyền sử dụng đất, thửa đất số 229, tờ bản đồ số 27, diện tích 2.050m2. Tôi cùng cha mẹ đến Phòng công chứng gặp ông Trần Trọng V làm hợp đồng tặng cho, ông V có hỏi cha mẹ tôi và cha mẹ tôi đã đồng ý tặng cho quyền sử dụng đất trên và ông V đã cầm tay cha mẹ tôi để lăn tay vào trong phần ký tên của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Ngày 23 tháng 5 năm 2014 tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến nay không biết lý do gì cha mẹ tôi lại khởi kiện ra Tòa án và cho rằng tôi làm giả mạo giấy tờ rồi đòi lại đất đã tặng cho. Việc cha mẹ tặng cho tôi quyền sử dụng đất số 229, tờ bản đồ số 27, diện tích 2.050m2 là có thật, không phải giả mạo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND thị xã B trình bày:
Ngày 24/02/2014, ông Nguyễn Kim Th và bà Ngô Thị Th1 tặng cho ông Nguyễn Văn T thửa đất số 229, tờ bản đồ số 27, diện tích 2.050m2, trong đó có 400m2 đất ở tại nông thôn; 1.650m2 đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng: ổn định đến năm 2043, địa chỉ thửa đất tại xã B2, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk được UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất số BE 534196, ngày 10/01/2012. Hai bên đã ký kết hợp đồng tặng cho và đã được Công chứng viên Phòng công chứng số X, tỉnh Đắk Lắk công chứng ngày 24/02/2014, số công chứng 536, quyển số 01/2014/TP/CC - SCC/HĐGD. Sau đó các bên đã thực hiện thủ tục tặng cho theo quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP về trình tự, thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, ông Nguyễn Văn T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 090735 do UBND thị xã B cấp ngày 23/5/2014.
Việc thực hiện thủ tục tặng cho và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên là đúng trình tự theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng Công chứng số X, tỉnh Đắk Lắk
:
Vào ngày 24/02/2014, ông Nguyễn Kim Th và bà Ngô Thị Th1 cùng với ông Nguyễn Văn T đã đến Phòng công chứng số X để yêu cầu lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất số 229, tờ bản đồ số 27, diện tích 2.050m2 địa chỉ thửa đất tại xã B2, thị xã B, được UBND thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất số BE 534196 ngày 10/01/2012. Theo yêu cầu của các ông bà có tên trên, Phòng công chứng số X, tỉnh Đắk Lắk đã yêu cầu cung cấp các bản chính gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 534196; Sổ hộ khẩu và giấy chứng minh nhân dân của ông Th, bà Th1, ông T, đồng thời tiến hành lập hợp đồng tặng cho theo quy định và ông Th, bà Th1 và ông T đã đọc lại nội dung hợp đồng và các bên tham gia đã ký tên, điểm chỉ vào hợp đồng tặng cho đầy đủ, đồng thời Công chứng viên Phòng công chứng số X đã ký tên, văn thư đóng dấu và gửi cho các bên tham gia 03 bản chính của hợp đồng tặng cho và lưu tại Phòng công chứng số X một bản chính theo quy định. Tôi khẳng định việc điểm chỉ, ký tên vào hợp đồng tặng cho là do ông Th, Thôm, ông T điểm chỉ và ký, không có ai ký hay điểm chỉ thay. Đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2018/DS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định:
Căn cứ vào Điều 389, Điều 465, Điều 467 Bộ luật Dân sự 2005; khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013;
Tuyên xử:
Không chấp nhận đơn kh kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Kim Th và bà Ngô Thị Th1 về việc yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 536, quyển sổ số 01/2014/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24 tháng 02 năm 2014 giữa bên tặng cho là ông Nguyễn Kim Th, bà Ngô Thị Th1 và bên nhận tặng cho là ông Nguyễn Văn T vô hiệu.
Bác yêu cầu của ông Nguyễn Kim Th và bà Ngô Thị Th1 về việc yêu cầu Tòa án giải quyết thu hồi và hủy bỏ giá trị pháp lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 090735 do UBND thị xã B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 23/5/2014 mang tên Nguyễn Văn T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí trưng cầu giám định và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 6 tháng 2 năm 2018, nguyên đơn bà Ngô Thị Th1
kháng cáo bản án sơ thẩm
.
Ngô Thị Th1
kháng cáo
:
Ngô Thị Th1
không
Viện kiểm sát
C
K t
giám định
– Công an
cho thấy dấu vân tay điểm chỉ của ông Th và bà Th1 tại
đồng tặng cho quyền sử dụng đất là đúng với dấu vân tay của ông Th và bà Th1. D hợp đồng
, đ
.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Th a đất số 229, t b n đ s 27, diện tích 2.050 m2 tại xã B2, thị xã B
vợ chồng bà Ngô Thị Th1 và ông Nguyễn Kim Th
, được UBND thị xã B cấp G số BE 534196 ngày 10/01/2012. [2] Ngày 24/02/2014, ông Nguyễn Kim Th và bà Ngô Thị Th1
hợp đồng
ông Nguyễn Văn T thửa đất trên. Hợp đồng
được Công chứng viên Phòng công chứng số X, tỉnh Đắk Lắk công chứng ngày 24/02/2014, số công chứng 536, quyển số 01/2014/TP/CC - SCC/HĐGD.
Bên
ông Nguyễn Văn T
pháp luật [3] K t
giám định
– Công an
cho thấy dấu vân tay điểm chỉ trong phần chữ ký của ông Nguyễn Kim Th và bà Ngô Thị Th1 tại mục bên tặng cho của
đồng tặng cho quyền sử dụng đất là đúng với dấu vân tay của ông Nguyễn Kim Th và bà Ngô Thị Th1 tại Chứng minh nhân dân của ông Th và bà Th1 đã cung cấp
. [4] Như vậy, căn cứ định ông Nguyễn Kim Th và bà Ngô Thị Th1 tặng cho ông Nguyễn Văn T quyền sử dụng đất, thửa đất số 229, tờ bản đồ số 27, diện tích 2.050 m2 tọa lạc tại xã B2, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk [5]
đơn khởi kiện của ông
và bà Ngô Thị Th1 yêu c u Tòa án tuyên bố h p đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có cơ sở. [6]
vân tay:
không
không
, nên
hẩm
không
. [7]
không
kháng cáo
bà Ngô Thị Th1. [8] Ông
và bà Ngô Thị Th1
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 389, Điều 465, Điều 467 Bộ luật Dân sự 2005; khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013;
bà Ngô Thị Th1;
1. Không chấp nhận đơn kh kiện của ông Nguyễn Kim Th và bà Ngô Thị Th1 về việc yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 536 ngày 24 tháng 02 năm 2014 giữa bên tặng cho là ông Nguyễn Kim Th, bà Ngô Thị Th1 và bên nhận tặng cho là ông Nguyễn Văn T vô hiệu.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Kim Th và bà Ngô Thị Th1 về việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 090735 do UBND thị xã B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 23/5/2014 mang tên Nguyễn Văn T.
3.
Ông
và bà Ngô Thị Th1
nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm
.
4.
Ông Nguyễn Kim Th và bà Ngô Thị Th1 phải 3.900.000đ, được khấu trừ vào số tiền 3.900 000đ bà Ngô Thị Th1 đã nộp tạm ng tại T án.
5.
.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - - - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, P.HCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Tự |