vanban.org

Bản án 95/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị T 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) sung quỹ nhà nƣớc. Bị cáo phải nộp một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị T - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 222 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2017/ HSST
Ngày: 28/12/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƢƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Trần Văn Hải, Hƣu trí.

Trú tại: xã Văn Sơn, huyện Đô Lƣơng, tỉnh Nghệ An.

2. Bà: Đoàn Thị Quyên, Bí thƣ đoàn xã.

Nơi công tác: UBND xã Lạc Sơn, huyện Đô Lƣơng, tỉnh Nghệ An.

Thư ký tòa án phiên tòa: Ông: Lê Văn Đạt, Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lƣơng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương – tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lƣơng, tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 97/2017/ HSST ngày 11/12/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị T

Sinh ngày: 02/8/1971.

Nơi ĐKNKTT: Xóm A, xã L, huyện Đô Lƣơng, tỉnh Nghệ An.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

- Văn hóa: 12/12

Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không

Con ông: Lê Đình H, sinh năm 1940.

Con bà: Lê Thị Ch, sinh năm 1946.

Chồng: Nguyễn Khắc H, sinh năm 1961.

Con: Có 4 con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2003.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/9/2017 đến ngày 01/10/2017 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lê Thị T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lƣơng, tỉnh Nghệ An truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:

Vào ngày 01 tháng 01 năm 2017 anh Nguyễn Khắc H, sinh năm 1961 trú tại xóm A, xã L, huyện Đô Lƣơng có hợp đồng đại lý bán vé xổ số lô tô với công ty TNHH một thành viên Nhà nƣớc xổ sổ kiến thiết Nghệ An (Công ty xổ sổ kiến thiết Nghệ An). Vào ngày 28/9/2017, Lê Thị T sinh năm 1971 (Là vợ của anh Nguyễn Khắc H) trú tại xóm 2, xã Lạc Sơn, huyện Đô Lƣơng vừa bán vé xổ số cho công ty xổ số kiến thiết Nghệ An tại nhà ở của mình, vừa đánh bạc dƣới hình thức ghi số lô trái phép. Tức là khi có ngƣời nào đến đánh lô trái phép thì Lê Thị T ghi các số, ký hiệu và số tiền đánh vào một mảng giấy trắng (Gọi là cáp lô). Tỷ lệ ăn thua của một số lô là 01 (Một) điểm nếu thắng thì đƣợc 80.000 đồng (Tám mƣơi nghìn đồng), trong đó một điểm lô tƣơng ứng với số tiền 22.500 đồng (Hai mƣơi hai nghìn năm trăm đồng), số tiền thắng tỷ lệ thuận với số lần xuất hiện của só đó trong bảng lô. Căn cứ để biết trúng hay không trúng số lô là dựa vào hai số cuối tự nhiên của tất cả các giải của kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thƣởng vào lúc 18 giờ 15 phút ngày hôm đó.

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/9/2017, Phạm Tiến M, sinh năm 1987 trú tại khối A, phƣờng Lê Lợi, thành phố Vinh, Nghệ An đến nhà Lê Thị T ở xóm A, xã L, huyện Đô Lƣơng. Tại đây, M nói với T: “Đánh cho con lô tám lăm năm mươi điểm, hai tám hai mươi điểm, tám hai năm mươi điểm”. Nghĩa là M muốn đánh với T 03 (Ba) số lô, cụ thể: “85”, “82”, mỗi số 50 điểm và “28” 20 điểm tƣơng ứng với số tiền là 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng). T đồng ý và ghi các số lô, ký hiệu và số tiền M đánh vào một mảnh giấy trắng (Cáp lô) ký tên rồi đƣa cho M và nhận số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) từ M. Cùng lúc đó Nguyễn Đình H, sinh năm 1996, trú tại khối A, phƣờng Lê Lợi, thành phố Vinh, Nghệ An đến và nói với T: “Ghi cho tui con lô năm bảy, tám mốt, bốn bảy mỗi con bốn mươi điểm” nghĩa là H muốn đánh với T 01 (Ba) số lô, cụ thể: “57”, “81”, “47” mỗi số lô 40 điểm, tƣơng ứng với số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng). T đồng ý và ghi các số lô, ký hiệu và số tiền H đánh vào một mảnh giấy trắng (Cáp lô) ký tên rồi đƣa cho H và nhận số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) từ H. Ngay sau đó, Dƣơng Phúc Th, sinh năm 1982, trú tại xóm Yên H, xã Y, huyện Đô Lƣơng, tỉnh Nghệ An đến gặp T mua vé lô tô để đánh do công ty sổ xố kiến thiết miền bắc phát hành ngày 28/9/2017 từ đại lý bán vé xổ số của công ty xổ số kiến thiết Nghệ An. Gặp T, Thế nói: “Chị ghi cho con đề hai hai mười một nghìn; bốn bốn, chín chín mỗi con hai hai nghìn” ý Thế muốn đánh số lô tô chỗ đại lý bán vé xổ số của T, cụ thể là số “22” với số tiền 11.000 (Mƣời một nghìn đồng), số “44” và số “99”, mỗi số là 22.000 đồng (Hai mƣơi hai nghìn đồng) tổng số tiền là 55.000 đồng (Năm mƣơi lăm nghìn đồng), nhƣng do quen biết nên T chỉ lấy từ Thế số tiền 50.000 đồng (Năm mƣơi nghìn đồng), sau đó T ghi các số lô tô vào cáp xổ xố lô tô của công ty TNHH một thành viên Nhà nƣớc xổ số kiến thiết Nghệ An, trong lúc T đang ghi thì bị tổ công tác phòng PC 45 Công an tỉnh Nghệ An bắt quả tang (Lúc này khoảng 18 giờ cùng ngày 28/9/2017), thu giữ: 01 (Một) cáp lô, ghi trên mảnh giấy trắng các số, ký hiệu số tiền đánh và có chữ ký xác nhận của Lê Thị T, thu trong ngƣời Phạm Tiến M: 01 (Một) cáp lô, ghi trên tờ mảnh giấy trắng các số lô, ký hiệu, số tiền đánh và có chữ lý xác nhận của Lê Thị T, thu trong ngƣời Nguyễn Đình H; 01 (Một) cáp xổ số lô tô của công ty TNHH một TVNN xổ số kiến thiết Nghệ An thu trong ngƣời Dƣơng Phúc Thế; thu số tiền 7.900.000 đồng (Bảy triệu chín trăm nghìn đồng) tại Lê Thị Tâm.

Về vật chứng vụ án:

Số tiền 7.900.000 đồng thu giữ của Lê Thị T, trong đó có số tiền 5.400.000 đồng là do Phạm Tiến M và Nguyễn Đình H dùng để đánh bạc với Lê Thị T nên đã chuyển kho bạc Nhà nƣớc huyện Đô Lƣơng bảo quản, còn lại số tiền 2.500.000 đồng là T không dùng vào việc đánh bạc trái phép nên đã trả lại cho Lê Thị T.

Tại bản Cáo trạng số 02/VKS- HS ngày 07/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lƣơng truy tố bị cáo Lê Thị T về tội “ Đánh bạc” theo Khoản 1 điều 248 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lƣơng phát biểu ý kiến xác định nội dung vụ án, hành vi phạm tội và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Thị T về tội “ đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự nhƣ nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lƣơng đã tống đạt cho bị cáo. Đồng thời đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lƣơng cũng đã đánh giá tính chất vụ án, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 248, Điểm h, p Khoản 1, 2 Điều 46; Điều 30 của BLHS năm 1999. Nghị quyết 41/QH14; Khoản 3 Điều 7; Điểm x Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Thị T từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng sung quỹ nhà nƣớc. Tịch thu sung công quỹ số tiền 5.400.000 đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung của bản cáo trạng mà viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lƣơng đã truy tố, cụ thể:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/9/2017, tại nhà của Lê Thị T ở xóm 2, xã L, huyện Đô Lƣơng, Lê Thị T đã có hành vi ghi số lô số đề trái phép cho Phạm Tến M và Nguyễn Đình H. Tổng số tiền tham gia đánh bạc là 5.400.000 đồng.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những đối tƣợng tham gia đánh bạc, phù hợp với vật chứng thu giữ đƣợc và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Lê Thị T phạm tội "đánh bạc" với số tiền tham gia đánh bạc là 5.400.000 đồng. Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự.

Vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi đánh bạc dƣới hình thức ghi số lô, số đề của bị cáo là liều lĩnh, trắng trợn, coi thƣờng pháp luật, xâm phạm trật tự xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.

Trong giai đoạn hiện nay các tệ nạn xã hội đang có chiều hƣớng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp, trong đó có tệ nạn "Đánh bạc" đang lan tràn vào từng thôn xóm, gây ảnh hƣởng không nhỏ đến đời sống của một bộ phận nhân dân, chính vì vậy việc tập trung điều tra, truy tố và sớm đƣa ra xét xử công khai tại phiên tòa hôm nay và lên cho bị cáo một mức án nghiêm và tƣơng xứng với hành vi của bị cáo. Tuy nhiên xét bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và cũng tại phiên tòa khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, từ trƣớc tới nay chƣa có tiền án tiền sự. Bị cáo có bố và mẹ là ngƣời có công với cách mạng đƣợc tặng thƣởng Huy chƣơng kháng chiến hạng nhất ( Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 và Điểm x Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 ). Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm h, p Khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/QH14; Khoản 3 Điều 7; Điểm x Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Do bị cáo Lê Thị T có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cÇn ¸p dông h×nh ph¹t chÝnh lµ ph¹t tiÒn còng ®ñ tÝnh r¨n ®e gi¸o dôc bÞ c¸o để bị cáo thấy đƣợc tính khoan hồng của pháp luật mà rèn luyện để trë thµnh c«ng d©n cã Ých cho gia ®×nh vµ x· héi.

Đối với Phạm Tiến M và Nguyễn Đình H có hành vi đánh lô, đề nhƣng chƣa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lƣơng đã xử phạt hành chính là đúng pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Số tiền 5.400.000 đồng là số tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội và do các đối tƣợng tham gia đánh bạc đánh nên cần tịch thu sung quỹ nhà nƣớc.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 248; Điểm h, p Khoản 1, 2 Điều 46; Điều 30 Bộ luật hình sự 1999. Nghị quyết 41/QH14; Khoản 3 Điều 7; Điểm x Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị T 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) sung quỹ nhà nƣớc. Bị cáo phải nộp một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc số tiền 5.400.000 đồng ( Năm triệu bốn trăm ngàn đồng).

( Số tiền trên có tại kho bạc nhà nƣớc Đô Lƣơng, Nghệ An, Tài khoản số 39490105362900000 của Công an huyện Đô Lƣơng).

* Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thị T phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân tỉnh Nghệ An./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Nghệ An;

- VKS huyện Đô Lƣơng;

- Công an huyện Đô Lƣơng; -THA hình sự;

- Cơ quan thi THA dân sự;

Nguyễn Đức Anh

- Bị cáo;

- Lƣu hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN ĐÔ LƢƠNG

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

TỈNH NGHỆ AN

------------

Đô lƣơng, ngày 28 tháng 12 năm 2017

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN

ĐÔ LƢƠNG – TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán– Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông: Trần Văn Hải. Hƣu trí tại xã Văn Sơn, huyện Đô Lƣơng. 2, Bà : Đoàn Thị Quyên. Bí thƣ đoàn xã Lạc Sơn, huyện Đô Lƣơng.

Căn cứ vào Điều 199 và 222 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Vào ngày 28 tháng 12 năm 2017. Tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử đã tiến hành nghị án đối với vụ án: Lê Thị Tâm “ Đánh bạc”.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án nhƣ sau:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Tâm phạm tội “ Đánh bạc”

Kết quả biểu quyết: 3/3;

2.Về điều luật áp dụng:

Áp dụng Khoản 1 Điều 248; Điểm h, p Khoản 1,2 Điều 46; Điều 30 Bộ luật hình sự 1999. Nghị quyết 41/QH14; Khoản 3 Điều 7; Điểm x Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Kết quả biểu quyết: 3/3; 3.Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thị Tâm 7.000.000 đồng ( Bảy triệu đồng ) sung quỹ nhà nƣớc.

Kết quả biểu quyết: 3/3;

4.Về các vấn đề khác:

*Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc số tiền 5.400.000 đồng ( Năm triệu bốn trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, cho đến khi các bị cáo thi hành xong khoản tiền phạt thì hàng tháng, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm tƣơng ứng với thời gian chƣa thi hành án.

( Số tiền trên có tại kho bạc nhà nƣớc Đô Lƣơng, Nghệ An, Tài khoản số 39490105362900000 của Công an huyện Đô Lƣơng).

* Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thị Tâm phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo Lê Thị Tâm có quyền kháng cáo lên Toà án nhân tỉnh Nghệ An./.

Kết quả biểu quyết: 3/3 HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Hải

Đoàn Thị Quyên

Nguyễn Đức Anh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ