- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam đối với Công ty TNHH SGE International về việc tranh chấp hợp đồng nguyên tắc số HVN-PC/SGE 2020 ngày 01/8/2020 và đơn đặt hàng số HVN-SGE-2020.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 948/2023/KDTM-ST Ngày: 30-5-2023 V/v tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc An
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Hoàng Tuấn
2. Ông Trần Hưng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Khang, cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Diễm - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 951/2022/TLST-KDTM ngày 16 tháng 5 năm 2022, về tranh chấp: “Hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2023/QĐXXST-KDTM ngày 10 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 116/2023/QĐST-KDTM ngày 05 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam
Trụ sở: khu phố Green View, đường Nguyễn Lương Bằng, phường Tân Phú, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Công ty Luật TNHH Quốc Tế DSP, (Người đại diện: Ông Trương Công S) – Đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền số: 51/2021/HĐUQ/DSP-HVN ngày 27/11/2021). (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Công ty TNHH SGE International
Trụ sở:Tòa nhà Vsmart, 121 Vạn Kiếp, Phường 3, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Lưu Thị Xuân M, sinh năm: 1981 – Đại diện theo pháp luật; Địa chỉ: Bùi Hữu Nghĩa, Phường 2, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.(Vắng nặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Giữa nguyên đơn là công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam và bị đơn là Công ty TNHH SGE International có giao kết hợp đồng nguyên tắc số HVN-PC/SGE 2020 ngày 01/8/2020 về việc nguyên đơn sẽ cung cấp thiết bị cho bị đơn theo đơn đặt hàng.
Ngày 08/10/2020, bị đơn có đơn đặt hàng số HVN-SGE-2020.12.002 với giá trị hàng hóa : 449.003.500 đồng, hàng hóa là tủ lạnh, tủ đông, máy sản xuất đá viên. Nguyên đơn đã thực hiện giao hàng đầy đủ và hoàn thành vào 29/01/2021. Căn cứ vào hợp đồng nguyên tắc, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán trước ngày 28/02/2021.
Tuy nhiên sau nhiều lần yêu cầu thanh toán, bị đơn còn nợ tiền mua hàng chưa thanh toán hết.
Vào ngày 28/12/2021, giữa các bên có lập biên bản làm việc xác nhận công nợ ; Theo đó bị đơn xác nhận còn nợ 230.000.000 đồng, và chịu tiền lãi chậm trả phát sinh từ ngày 01/7/2021 đến ngày thanh toán là 10%/năm.
Cụ thể các lần thanh toán tiếp theo của bị đơn như sau :
Vào ngày 14/01/2022 bị đơn thanh toán : 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu)
Vào ngày 15/3/2022 bị đơn thanh toán : 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu)
Tính đến ngày 15/3/2022, bị đơn còn nợ 190.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là 224.538.000 đồng bao gồm :
- Tiền nợ gốc : 190.000.000 đồng
- Tiền lãi do chậm thanh toán tính đến 16/3/2023 là : 34.538.000 đồng.
Nguyên đơn không yêu cầu tiếp tục tính lãi đến ngày xét xử.
Đối với bị đơn là Công ty TNHH SGE International,
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tại trụ sở của Công ty TNHH SGE International và tại nơi cư trú của người đại diện theo pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn không có người đại diện hợp pháp tham gia trong quá trình giải quyết vụ án, vắng mặt và không gửi ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa,
Căn cứ vào đơn xin xét xử vắng mặt ngày 01 tháng 5 năm 2023 của nguyên đơn, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trên.
Bị đơn đã được niêm yết hợp lệ tham gia phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Được thể hiện đầy đủ trong bài phát biểu số 143/PB-KDTM ngày 30/5/2023.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng Dân sự, tuy nhiên còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng Dân sự; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Đã tuân thủ quy định của pháp luật về tố tụng; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng Dân sự, bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Giữa nguyên đơn và bị đơn có giao kết hợp đồng nguyên tắc số HVN-PC/SGE 2020 ngày 01/8/2020 về việc cung cấp thiết bị. Ngày 08/10/2020 bị đơn có đơn đặt hàng số HVN-SGE-2020.12.002, nguyên đơn đã giao hàng đầy đủ và hoàn thành vào 29/01/2021. Căn cứ vào hợp đồng nguyên tắc, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán trước ngày 28/02/2021. Căn cứ vào quá trình thanh toán của bị đơn thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền còn lại là 190.000.000 đồng là có cơ sở theo quy định tại Điều 50, 55 Luật Thương mại. Về tiền lãi, căn cứ vào lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường (13.70%/năm) thì mức lãi suất chậm thanh toán 10%/năm mà nguyên đơn yêu cầu có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại. Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa Công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam và Công ty TNHH SGE International là tranh chấp về: “ Hợp đồng mua bán hàng hóa” được qui định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý, bị đơn là Công ty TNHH SGE International có trụ sở tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Ngày 01 tháng 5 năm 2023 nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
Bị đơn là Công ty TNHH SGE International đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng về việc tham gia phiên tòa ngày 05/5/2023 và ngày 30/5/2023 vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu của đương sự:
Công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam yêu cầu Công ty TNHH SGE International phải thanh toán số tiền hàng còn nợ là 190.000.000 đồng từ việc giao kết giao kết hợp đồng nguyên tắc số HVN-PC/SGE 2020 ngày 01/8/2020 và đơn đặt hàng số HVN-SGE-2020.12.002 ngày 08/10/2020.
Hội đồng xét xử xét:
Căn cứ vào hợp đồng số HVN-PC/SGE 2020 ngày 01/8/2020 được giao kết bởi Công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam và Công ty TNHH SGE International; Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam và Công ty TNHH SGE International thì hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng hình thức văn bản, tự nguyện theo Điều 24 Luật thương mại; Đại diện giao kết là người có thẩm quyền và hợp pháp, có con dấu xác nhận của pháp nhân hai Công ty là phù hợp với quy định tại Điều 85, Điều 87 Bộ luật dân sự; Đối tượng của Hợp đồng mua bán hàng hóa không nằm trong danh mục cấm. Do đó, Hợp đồng được giao kết giữa Công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam và Công ty TNHH SGE International là có thật và hợp pháp.
Về quá trình thực hiện hợp đồng, Hội đồng xét xử căn cứ vào đơn đặt hàng số HVN-SGE-2020.12.002 ngày 08/10/2020, phiếu giao hàng ngày 29/01/2021, biên bản làm việc ngày 28/12/2021 về việc xác định Công ty TNHH SGE International còn phải thanh toán tiền mua hàng còn lại là 230.000.000 đồng từ đơn đặt hàng HVN-SGE-2020.12.002 ngày 08/10/2020 ; giấy báo nợ/có ngày 14/01/2022 (bị đơn thanh toán 20.000.000 đồng) và ngày 15/3/2022 (bị đơn thanh toán 20.000.000 đồng) là phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn, thể hiện quá trình thực hiện hợp đồng giữa Công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam và Công ty TNHH SGE International. Công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hóa được quy định tại Điều 34, Điều 35 Luật Thương mại nên phía Công ty TNHH SGE International có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng theo quy định tại Điều 50, Điều 55 của Luật thương mại. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ: 190.000.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu).
Đối với yêu cầu bị đơn phải trả lãi do chậm thanh toán là: 34.538.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét: Tại Điều 3 của Hợp đồng nguyên tắc, các bên thỏa thuận thời hạn thanh toán giá trị đơn hàng là 30 ngày kể từ ngày giao hàng. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì bên bán tức là nguyên đơn trong vụ án đã hoàn thành việc giao hàng vào ngày 29/01/2021 đối chiếu với các chứng từ thanh toán của bị đơn thì bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền. Tuy nhiên, trong hợp đồng nguyên tắc được giao kết giữa các bên không thỏa thuận về các chế tài nếu vi phạm hợp đồng. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu tính lãi đối với số tiền chậm trả với mức lãi suất là 10%/năm đối với số tiền 230.000.000 đồng tính từ ngày 01/7/2021, và giảm dần tương ứng với hai đợt thanh toán tiếp theo (14/01/2022, 15/3/2022).
Xét thấy thỏa thuận thời hạn thanh toán tiền hàng trong hợp đồng nguyên tắc thì việc nguyên đơn xác định mốc thời gian bị đơn vi phạm nghĩa vụ vào ngày 01/7/2021 là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận; Về mức lãi suất, theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại thì bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, theo đó mức lãi nguyên đơn yêu cầu là 10%/năm thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường (13.70%) nên chấp nhận. Do đó, số tiền lãi do chậm trả mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán là 34.538.000 đồng có cơ sở và hợp pháp nên chấp nhận. Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử là có lợi cho bị đơn và tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về phía bị đơn: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có văn bản trình bày ý kiến, cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án nên Tòa án xem như bị đơn từ bỏ quyền bảo vệ mình tại phiên tòa sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền là 224.538.000 đồng là có căn cứ và hợp pháp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại là: 5% x 224.538.000 đồng = 11.226.900 đồng. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 30; Điểm b Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ Luật Tố Tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 85, 87 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 24, 34, 35, 50, 55, 306 của Luật Thương mại;
- Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam đối với Công ty TNHH SGE International về việc tranh chấp hợp đồng nguyên tắc số HVN-PC/SGE 2020 ngày 01/8/2020 và đơn đặt hàng số HVN-SGE-2020.12.002 ngày 08/10/2020.
Buộc Công ty TNHH SGE International phải thanh toán cho Công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam số tiền: 224.538.000 đồng (hai trăm hai mươi bốn triệu năm trăm ba mươi tám ngàn đồng), trong đó tiền nợ gốc là: 190.000.000 đồng, tiền lãi do chậm thanh toán là: 34.538.000 đồng làm một lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại:
Công ty TNHH SGE International phải chịu án phí là: 11.226.900 đồng (Mười một triệu hai trăm hai mươi sáu ngàn chín trăm đồng).
Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Công ty TNHH Hoshizaki Việt Nam là: 5.201.000 đồng (Năm triệu hai trăm lẻ một ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2021/0049697 ngày 11/5/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND Q. Bình Thạnh; - Chi cục THADS Q. Bình Thạnh; - Các đương sự; - Lưu hs, vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc An |