- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Thanh P - Anh Phan Hoàng H"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án Tuyên xử: 1.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 947/2018/HNGĐ-ST. Ngày: 18-9-2018 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Danh Cư
2. Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Tuyết Trinh – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hổ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1178/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2017 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2018/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh P, sinh năm 1989; cư trú tại: Đường H, Phường D, Quận H, Tp. Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Anh Phan Hoàng H, sinh năm 1984; cư trú tại: Đường C, Phường D, Quận H, Tp. Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 14/11/2017 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn - chị Trần Thị Thanh P trình bày: Chị và anh Phan Hoàng H tự nguyện chung sống từ năm 2007 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường D, Quận H. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2015, vợ chồng thường xuyên cãi vã do anh H sử dụng ma túy không chịu từ bỏ, đã bị bắt đi cai nghiện bắt buộc, hiện tại đã chấp hành xong nhưng về cũng tiếp tục tái nghiện. Nay, chị P xác định không thể duy trì cuộc sống hôn nhân cùng anh H, chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh H. Về con chung: Chị P và anh H có 01 con chung tên Phan Khánh N, sinh ngày 18/12/2007, hiện đang sống cùng với chị P. Chị P đề nghị được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Chị P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng anh H không đến Tòa án theo giấy triệu tập và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của chị P nên Tòa án không thể thu thập được lời khai của anh H. Tại phiên tòa, Nguyên đơn – chị Trần Thị Thanh P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn – anh Phan Hoàng H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Thanh P và anh Phan Hoàng H có đăng ký kết hôn, chị P yêu cầu ly hôn với anh H, xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về “tranh chấp ly hôn”. Bị đơn đang cư trú tại Quận 8 (theo kết quả xác minh của Công an Phường 4, Quận 8) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn - chị Trần Thị Thanh P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị P.
Bị đơn – anh Phan Hoàng H, Tòa án đã triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh H.
Về yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 260/2007, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19/10/2007, cùng lời khai của chị P về việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị P và anh H là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị P: Trong quá trình chung sống, chị P và anh H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh H sử dụng ma túy không chịu từ bỏ, đi cai nghiện bắt buộc về lại tiếp tục tái nghiện và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Chị P xác định vợ chồng không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân với anh H.
Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích trên cơ sở yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình, đồng thời vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau. Chị P và anh H đã không tôn trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập anh H đến Tòa để trình bày ý kiến tự khai, tổ chức phiên hòa giải để các bên có điều kiện hàn gắn đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh H không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án mà không có lý do chính đáng. Điều này cho thấy anh H đã từ bỏ quyền lợi của mình, không muốn hòa giải hàn gắn đoàn tụ gia đình. Do đó, việc chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Chị P và anh H có 01 con chung tên Phan Khánh N, sinh ngày 18/12/2007. Chị P đề nghị được trực tiếp nuôi con vì hiện trẻ N đang sống cùng chị tại địa chỉ Đường T, Phường D, Quận H (có xác nhận của Công an Phường D); chị buôn bán tại nhà thu nhập khoảng mười triệu đồng/tháng nên đủ điều kiện để nuôi con. Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi là căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Chị P có chỗ ở, có thu nhập ổn định nên đủ điều kiện nuôi con. Trong suốt quá trình tố tụng, anh H không có bất kỳ ý kiến nào phản hồi về yêu cầu nuôi con của chị P. Đồng thời, trẻ N đang sống cùng chị P và trẻ cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với mẹ. Do đó, việc giao trẻ N cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị P xác định trong quá trình chung sống chị và anh H không có tài sản chung cũng như không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị P phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, các Điều 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh P về việc xin ly hôn với anh Phan Hoàng H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh P được ly hôn với anh Phan Hoàng H. (Giấy chứng nhận kết hôn số 260/2007, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19/10/2007).
- Về con chung: Chị Trần Thị Thanh P được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phan Khánh N, sinh ngày 18/12/2007.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
Anh Phan Hoàng H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em hoặc Hội Liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Trần Thị Thanh P phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0013756 ngày 23/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị Trần Thị Thanh P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thanh P và anh Phan Hoàng H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND.TPHCM; - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - UBND Phường D, Quận H; - Các đương sự; - Lưu: Vp, hồ sơ. Các Hội thẩm nhân dân | Đặng Thị Kim Nguyên HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |