vanban.org

Bản án 940/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H (Giấy chứng nhận kết hôn số 161, quyển số 01/2014 do Uỷ ban nhân dân Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2014 hết hiệu lực pháp luật).

Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 26/01/2016 và Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 23/5/2021 cho bà Vũ Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H cho đến khi bà M có yêu cầu. Ông H có quyền, nghĩa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Vũ Thị M- ông Nguyễn Hoàng H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H (Giấy chứng nhận kết hôn số 161, quyển số 01/2014 do Uỷ ban nhân dân Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2014 hết hiệu lực pháp luật).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC B
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 940/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 9 - 2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC B - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thúy Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Thị Hồng Phương

Ông Nguyễn Hồng Khanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Đinh Hương Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 555/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1307/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 2815/2025/QĐST - HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Vũ Thị M, sinh năm 1989 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số 740 đường Phạm Văn B, khu phố 9, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Vũ Thị M trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hoàng H chung sống với nhau vào năm 2014 trên cơ sở tự nguyện; đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 161, quyển số 01/2014 ngày 15/11/2014. Quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, cả hai không có sự quan tâm, chia sẻ và tôn trọng nhau nên thường xảy ra cãi vả, mâu thuẫn ngày càng nhiều và gay gắt hơn dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc. Mặc dù bà đã cố gắng rất nhiều để vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn nhưng vẫn không có kết quả. Nay bà xác định vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên đề nghị Toà giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 26/01/2016 và Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 23/5/2021. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngày 25/9/2025 nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa đưa vụ án ra xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập; các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng không giao nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo; đồng thời vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn”. Do bị đơn cư trú tại phường A, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa đưa vụ án ra xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 161, quyển số 01/2014 do Uỷ ban nhân dân Phường 13, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2014; xác định hôn nhân giữa bà Vũ Thị M và ông Nguyễn Hoàng H là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân nguyên đơn xin ly hôn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ nhau nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Tuy kết quả xác minh tại địa phương không xác định được mâu thuẫn nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa đã triệu tập các bên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn, phía bị đơn mặc dù được tống đạt trực tiếp giấy triệu tập nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không đến Tòa để giải quyết những mâu thuẫn, vướng mắt trong cuộc sống vợ chồng, như vậy chứng tỏ bản thân bị đơn không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên không có thiện chí muốn hàn gắn lại quan hệ vợ chồng. Xét thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình yêu thương giữa hai vợ chồng, phải cùng quan tâm, chia sẻ và chăm sóc lẫn nhau, thời gian vợ chồng xảy ra mâu thuẫn đã lâu nhưng cả hai không có hướng khắc phục, giải quyết, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn. Từ những phân tích trên cho thấy cuộc sống vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn hoàn toàn không hạnh phúc, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ vào các bản sao Giấy khai sinh số 278 ngày 04/8/2021 của Ủy ban nhân dân phường Thạnh Lộc, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; số 103/2016 ngày 22/02/2016 của Ủy ban nhân dân phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh và lời khai của nguyên đơn, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 26/01/2016 và Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 23/5/2021. Xét, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, đồng thời trẻ Đ cũng có nguyện vọng được sinh sống cùng mẹ vì thường xuyên bị ba đánh đập; bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của trẻ Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao 02 trẻ Đ và M cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H (Giấy chứng nhận kết hôn số 161, quyển số 01/2014 do Uỷ ban nhân dân Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2014 hết hiệu lực pháp luật).

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 26/01/2016 và Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 23/5/2021 cho bà Vũ Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H cho đến khi bà M có yêu cầu.

Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nguyên đơn phải chịu, được cấn trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0072101 ngày 12/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền được thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

Cỡ chữ