- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn K phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Căn c điểm điểm a kho n Điều 355, Điều 356 của Bộ luật T tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn K, bị cáo Ya M, bị cáo Danh C, bị cáo Tôn Thất V, giữ nguyên b n án sơ thẩm.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n n s : 94/2019/HS-PT Ng : 4-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Kim Đồng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn ỉnh
Ông Đặng Ngọc Bình
- Thư ký phiên tòa: Đ o Thị Lương - Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 10 năm 20 9, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 101/2019/TLPT-HS ngày 09-8-2019 đ i với bị cáo Nguyễn Văn K cùng c c đồng phạm khác; do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K, bị cáo Danh C, bị cáo Tôn Thất V, bị cáo Ya M, đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 97/2019/HS-ST ngày 03-7-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo kháng cáo:
1. Nguyễn Văn K, sinh năm 1977 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn Su i Thông A , xã Đạ Ròn, huyện Đ2, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; qu c tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã ch t v
Lê Thị T, sinh năm 956; vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 978 và có 02 người con, lớn sinh 2001, nhỏ sinh 2015; hiện đều cư trú tại thôn Su i thông A , xã Đạ Ròn, huyện Đ2, tỉnh Lâm Đồng;
Tiền án, tiền sự: không. ị c o ị bắt tạm giữ, tạm giam ng 08-9-20 8, được tha đ i iện ph p ngăn chặn ng 23-4-2019, hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo K:
Luật sư Ngu ễn Thị Thanh Truyền, thuộc Văn phòng luật sư Ngu ễn Lê – Đo n luật sư tỉnh Lâm Đồng; Có mặt;
Luật sư Lê Cao T nh, thuộc Văn phòng luật sư T nh - Đo n luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Tôn Thất V, sinh năm 969 tại Thành ph Hồ Chí Minh; nơi cư trú: thôn Đ Lâm, xã Đ Loan, hu ện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; qu c tịch: Việt Nam; con ông Tôn Thất A, sinh năm 936 v
Đỗ Thị V, sinh năm 1942; vợ Huỳnh Mai Tuy t N, sinh năm 982 và có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2018; hiện đều cư trú tại thôn Đ Lâm, xã Đ Loan, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng;
Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: B n n s 49 20 0 HSST ng 25-6-2010 bị Tòa n hu ện Đ xử phạt 5 th ng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh b c” bị c o đã chấp h nh xong năm 20 ;
Bị c o ị ắt tạm giữ, tạm giam ng 26-9-2018; hiện đang ị tạm giam tại Nh tạm giữ Công an hu ện Đ. Có mặt.
3. Danh C (tên gọi khác Lâm sinh năm 96 tại tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: ấp 7, xã Gia Canh, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: Khơ me; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; qu c tịch: Việt Nam; con ông Danh S (đã ch t) và bà Phạm Thị N (đã ch t); vợ Vũ Thị Đ, sinh năm 964 (không đăng ký kết hôn) và có 03 người con, lớn sinh 1988; nhỏ sinh 2003; hiện đều cư trú tại ấp 7, xã Gia Canh, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai;
Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: B n án s 628/HSST ngày 26-9-1996 của Tòa án tỉnh Đắk Lắk xử 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” nhưng qua x c minh không có ị cáo Danh C trong b n án này; B n án s 54/2011/HSST ngày 29-12-2011 của Tòa án dân huyện Đ2, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 th ng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
ị c o ị ắt tạm giữ, tạm giam t ng 08-9-2018, hiện đang ị tạm giam tại Nh tạm giữ Công an hu ện Đ. Có mặt.
4. Ya M (tên gọi khác Ye Đ), sinh năm 990 tại tỉnh Lâm Đồng, nơi cư trú: thôn R’Lơm, xã Tu Tra, hu ện Đ2, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 5/12; dân tộc: Churu; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; qu c tịch: Việt Nam; con ông Ya U sinh năm 96 và bà Ma V, sinh năm 964 hiện đều cư trú tại thôn R’Lơm, xã Tu Tra, hu ện Đ2, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: chưa có;
Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: n n s 0 2012/HSST ng 0-01-20 2 của Tòa n tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo về tội “L a đảo chiếm đo t t i sản”;
ị c o ị ắt tạm giữ, tạm giam ng 08-9-2018, hiện đang ị tạm giam tại Nh tạm giữ Công an hu ện Đ. Có mặt.
Trong vụ án này, có các bị cáo Ya L, bị cáo K’ T, bị cáo Ya Ư, bị cáo Nguyễn Thị Thùy L; bị h i ông Võ Văn T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thanh N, ông La Văn C, ông Nguyễn Văn M, bà Ma V, bà Nguyễn Thị H, bà K’ N không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:
V o kho ng th ng 5-2018 một người có tên gọi l Tú (kh ng r lai lịch ở Thành ph H Chí Minh) giới thiệu với ị c o Ngu ễn Văn K rằng ị hại ông Võ Văn T có nhu cầu tìm mua “đá hủy sắt”; ị c o K thông qua ị c o Tôn Thất V (tên gọi khác V râu liên lạc với ị c o Ya L để n “đ hủ sắt” cho ị hại ông Tường
Do mu n có tiền tiêu xài, các bị cáo Ya L, bị cáo Vinh, bị cáo K bàn bạc với các bị cáo Danh C, bị cáo Nguyễn Thị Thùy L, bị cáo Ya M, bị cáo K’Tâm và bị cáo Ya Ư cùng nhau thực hiện hành vi l a đ o chi m đoạt tài s n của bị hại ông Tường để lấy tiền chia nhau; theo đó ị c o Ya L phân công với vai trò t ng bị cáo như sau:
- Bị cáo K l người dẫn m i và tạo niềm tin cho bị hại ông Tường có cục “đá hủy sắt” thật; bị cáo Ya L đóng vai trò chủ hàng, người có cục “đ hủy sắt” nhưng do lớn tu i nên giao cục đ đã chuẩn bị t trước cho các bị cáo Ya Ư, bị cáo K’ T đóng gi là hai anh em và đóng vai con của bị cáo Ya L, cùng trực ti p cầm đ đi gặp bị hại ông Tường.
- Bị c o Công được phân công nhiệm vụ chuẩn bị các mẫu sắt gi để đ nh tráo khi cho bị hại ông Tường thử hàng, bị cáo Vinh có nhiệm vụ chở bị cáo Ya Ư đi giao dịch, liên lạc với bị cáo K và quan sát bị hại ông Tường t xa. Bị cáo Linh l người chuẩn bị cơm nước và cùng bị cáo Ya M c nh giới nhằm phát hiện ra những ai đi v o trong khu vực thử h ng để báo cho các bị cáo khác bi t cách xử lý.
Trong tháng 5-2018, khi bị hại ông Tường hẹn trước với bị cáo K lên thành ph Đ Lạt để xem hàng, nên theo phân công bị cáo Ya Ư l người mang cục “đá hủy sắt” cho vào ba lô cùng với bị cáo K gặp bị hại ông Tường tại ờ Hồ uân Hương, th nh ph Đ Lạt; thỏa thuận giá n 000 000 000đ Bị hại ông Tường mu n thử h ng để x c định hàng gi hay thật sau đó cùng hẹn nhau tại vườn cà phê thuộc xã Ninh Gia, huyện Đ để thử hàng. Do điều kiện chưa thuận lợi nên việc thử hàng không diễn ra, sau đó bị hại ông Tường về nghỉ Khách sạn tại Liên Nghĩa, huyện Đ để chờ thử hàng.
Bị cáo K bàn bạc lại với các bị cáo chọn địa điểm là phòng trọ (chưa c người ) sát phòng của bị cáo Công tại xã Phú Hội, huyện Đ vào ngày 26-5-2018. Do có sự chuẩn bị t trước, bị c o Công l m gi “mẫu sắt giả” được làm bằng silicon gi ng như “mẫu sắt thật”; chuẩn bị “mẫu sắt thật”. Mẫu gi được đưa cho ị cáo Ya Ư giữ, sau đó lấy cục đ đã chuẩn bị t trước rửa sạch đặt trên tấm v i tr i dưới nền; bị cáo K đưa cho ị hại ông Tường “mẫu sắt thật” sau đó bị hại ông Tường lấy mẫu sắt đặt bên cạnh cục đ Thời điểm này các bị cáo Ya Ư, bị cáo K’Tâm che chắn đẩy bị hại ông Tường ra khỏi phòng rồi nhanh chóng đưa “mẫu thử giả” cho bị cáo K để đ nh tr o “mẫu sắt thật” mà bị hại ông Tường đã để trước đó
Sau khi thực hiện xong, tất c ra ngo i đợi kho ng 15 phút các bị cáo và cùng ông Tường vào kiểm tra. Bị hại ông Tường cầm mẫu thử lên bẻ gã th nh nhiều đoạn nên tin là thật “cục đ có tính năng t c dụng hủy sắt” như nhóm ị cáo K đã nói, sau đó bị hại cùng các bị cáo gói niêm phong cục đ , giao lại cho nhóm của bị cáo K cất giữ.
Đ n sáng ngày 27-5-2018, bị cáo K thông tin với bị hại ông Tường rằng “chủ cục đá giảm giá bán xu ng 500.000.000đ”, còn bị hại Tường chưa tin cục “đá hủy sắt” nên bị hại ông Tường nói bị cáo K “kiếm người hợp tác cùng mua”. Đ n chiều ngày 27-5-2018, bị cáo K điện thoại cho bị hại ông Tường rằng “bị cáo K sẽ g p 100.000.000đ với bị h i ng Tường” để cùng nhau mua chung cục đ nhằm tạo niềm tin cho bị hại ông Tường. Khi bị hại ông Tường đồng ý, nhưng do chưa chuẩn bị đủ tiền nên bị hại ông Tường nói sẽ đặt cọc 50 000 000đ trước Trưa ng 28-5-2018, bị cáo K đón bị hại ông Tường xu ng Ngã ba Ninh Gia gặp các bị cáo Ya Ư, bị cáo K’ T; khi bị hại ông Tường xem lại cục đ vẫn còn nguyên niêm phong nên bị hại ông Tường đưa cho ị cáo K 50 000 000đ, sau đó ị cáo K đưa s tiền này cho các bị cáo Ya Ư, bị cáo K’ T giữ, sau đó giữa bị hại ông Tường và các bị cáo thỏa thuận “đến chiều cùng ngày nếu bị h i ng Tường kh ng giao đủ s tiền còn l i thì bị mất s tiền cọc”. Bị cáo K cùng bàn bạc với bị cáo Ya L lấy chính s tiền 50 000 000đ ị hại ông Tường đưa trước, bị cáo K 50 000 000đ của ông Quang (kh ng r lai lịch) để bị cáo K hùn vào mua cùng với bị hại ông Tường nhằm thúc đẩy việc bị hại ông Tường giao đủ s tiền như đã thỏa thuận.
Sau khi có s tiền 100 000 000đ, bị cáo K lên gặp bị hại ông Tường tại Khách sạn nhưng do bị hại ông Tường không chuẩn bị đủ tiền, bị cáo K nói bị hại ông Tường “cứ đi để bị cáo K thỏa thuận” Khi giao tiền tại Nghĩa Trang xã Phú Hội, huyện Đ; các bị cáo Ya Ư, bị cáo K’Tâm mang theo hàng (cục đá hủy sắt đã niêm phong; các bị cáo Ya L, bị cáo Vinh, bị cáo Linh ở bên ngoài, bị cáo Ya M làm nhiệm vụ c nh giới. Khi bị cáo K đưa bị hại ông Tường gặp các bị cáo Ya Ư, bị cáo K’Tâm xem hàng xong, bị hại ông Tường đưa cho c c ị cáo Ya Ư, bị cáo K’Tâm s tiền 280 000 000đ (trong s tiền này có s tiền 100.000.000đ bị cáo K đưa cho bị h i để góp chung, s tiền 180.000.000đ của bị h i ng Tường , sau đó ị cáo K (đóng gi với bị hại cùng hùm tiền mua chung) và bị hại ông Tường thỏa thuận với c c ị cáo Ya Ư, bị cáo K’Tâm “khi n o giao đủ s tiền còn l i sẽ giao cục đá hủy sát cho bị h i ng Tường”.
Đ n s ng ng 29-5-2018, bị cáo K đưa bị hại ông Tường đ n đường cao t c Liên Khương - Pren để gặp các bị cáo Ya Ư, bị cáo K’Tâm để giao tiền, giao cục “đá hủy sắt”; c c bị cáo Ya L, bị cáo Công, bị cáo Vinh, bị cáo Thùy Linh, bị cáo Ya M loanh quanh gần đó để c nh giới. Khi bị hại ông Tường giao s tiền 170 000 000đ cho các bị cáo Ya Ư, bị cáo K’Tâm xong thì bị cáo K giao cục “đá hủy sắt” cho bị hại ông Tường rồi chở ông Tường về khách sạn. Khi bị hại ông Tường phát hiện “đá hủy sắt” gi liền điện thoại cho bị cáo K nhưng K không nghe điện thoại, sau đó bị hại ông Tường trình o Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng
Như vậ ị cáo K cùng c c đồng phạm đã chi n đoạt của bị hại ông Tường 400 000 000đ, cụ thể s ng ng 28-5-2018, đã l a đ o chi m đoạt của bị hại ông Tường s tiền 50 000 000đ (khoản tiền đặt cọc ; đ n chiều cùng ng 28-5-2018, đã l a đ o chi m đoạt của bị hại ông Tường s tiền 80 000 000đ; đ n s ng ng 29-5-2018, đã l a đ o chi m đoạt của bị hại ông Tường s tiền 70 000 000đ Sau khi chi m đoạt, bị cáo Ya L đã chia tiền cụ thể bị cáo Công s tiền 40 000 000đ, bị cáo K’T s tiền 50.000 000đ, bị cáo Ya Ư s tiền 50 000 000đ, bị cáo Ya M s tiền 3 000 000đ, bị cáo Vinh s tiền 30 000 000đ, bị cáo Linh được chia 7 000 000đ, bị cáo Ya L s tiền 00 000 000đ nhưng đưa cho bị cáo K 50 000 000đ để tr cho ông Quang, bị cáo K s tiền 00 000 000đ
Về vật ch ng: Qu trình điều tra đã thu giữ vật ch ng, tài s n cụ thể:
- Thu giữ của bị cáo C: 01 xe mô tô (nhãn hiệu Future m u sơn x m biển s 60B4-750.84; Kiểm tra trong c p xe và thu giữ 01 thanh vật thể rắn (dài 20,5cm màu xám đen d ng hình trụ, đường kính 01cm trên thân được dán keo dính hai đo n, thanh vật thể rắn gi ng thanh sắt xây dựng); 01 thanh vật thể rắn (d i 20,5cm m u đen d ng hình trụ c đường kính 1,5cm có kiểu dáng gi ng thanh sắt xây dựng); 01 bìa vở học sinh (ghi chữ DALMATIANS!CARTOON được cuộn tròn cột l i bằng hai sợi thun); 01 giấy trắng được cuộn tròn cột bằng dây thun (độ dài 20,5cm bên trong có nhét giấy vệ sinh).
C c đồ vật thu giữ tại nhà trọ gồm 01 thanh vật thể rắn (dài 38cm, d ng hình trụ đường kính 1,3cm m u đen c d ng gi ng thanh sắt xây dựng); 01 thanh vật thể rắn (dài 20cm, d ng hình trụ c đường kính 1,3cm d ng gi ng thanh sắt xây dựng); 01 thanh vật thể rắn (dài 20,5cm d ng hình trụ c đường kính 1,3cm gi ng thanh sắt xây dựng); 01 thanh vật thể rắn (dài 20cm, d ng hình trụ c đường kính 1cm d ng gi ng thanh sắt xây dựng); 01 nồi đồng vật thể rắn có dạng bầu (đường kính trên 11cm, m u xám đen cùng với nắp đ t); 01 bịch x p màu trắng (d ng hình vuông 1,5cmx0,5cmx11cm) bên trong có một vật thể rắn được bọc kín bằng giấy than; 01 bịch n lon đen ên trong đựng 01 gương kích thước 09cmx06cm; 01 nhiệt k nắp ddor d i 3,5cm (được cột ăng keo giữa nhiệt k v gương ; 0 thanh vật thể rắn (dài 25cm d ng hình trụ có đường kính 1,5 cm gi ng thanh sắt xây dựng); 01 thanh vật thể rắn (dài 20,5cm d ng hình trụ c đường kính 1,5cm gi ng thanh sắt xây dựng); 01 thanh vật thể rắn (dài 20cm d ng hình trụ c đường kính 1,5cm gi ng thanh sắt xây dựng); 01 thanh vật thể rắn (dài 19,5cm d ng hình trụ c đường kính 1,5cm gi ng thanh sắt xây dựng); 01 bịch nilon đen ên trong có 0 vòng vật thể rắn màu xanh còn ngu ên đường kính vòng 8cm; 01 vòng vật thể rắn m u xanh đã ị vỡ làm 3 m nh; 01 chìa khóa két sắt (dùng để m két sắt); 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng (đã ị vỡ màn hình) bên trong kèm sim; 01 điện thoại di động hiệu Nokia (d ng phím bấm, m u đen c s IMEI:353407098108236) bên trong có hai sim; 01 điện thoại di động hiệu MobiStar (m u đen có s IMEI:359240220422645) bên trong kèm một sim; 01 điện thoại di động hiệu WIKO (lo i cảm ứng màu tím mặt sau viền đỏ, phía mặt kính bị vỡ góc phải trên màn hình); 01 vật thể rắn hình bầu dục (kích thước 20cm x 9,5cm x 6,5cm màu xám toàn thân có r ch dài kiểu dáng vật thể gi ng viên đá); 01vật thể rắn hình bầu dục (kích thước 17cm x 10cm x 7cm m u xám trên thân c đường vân, kiểu dáng vật thể gi ng viên đá) được dán kín bằng bịch n lon m u đen, bỏ vào túi nylon màu vàng; 01 vật thể rắn c ng m u đen có 4 mặt hình người có dạng hình gần tròn (kích thước d i 8cm ngang 6,5cm được dán kín b i nilon m u đen đựng trong bịch nilon đỏ); 0 tượng Quan Công được làm bằng kim loại màu đen (dài 13cm x rộng 8,5cm); 01 viên dạng viên đ m u xanh rêu không rõ hình dạng (cao 7cm x rộng 5,5cm); 01 vật thể rắn dạng móng màu nâu (cao 13,5cm bề ngang 5,5cm); 02 vật thể rắn dạng s ng (dài 13,5cm) có một đầu nhọn móc đường kính 1,8 cm màu nâu.
Đ i với đồ vật thu giữ trên người: 01 ch ng minh nhân dân tên Danh C s 270518432; 01 điện thoại di động (hiệu HTC m u đen c s IMEI:35763306373552 bên trong kèm sim); 01 thẻ ATM Vietcombank mang tên Danh C; 01 Giấy ch ng nhận đăng ký xe s 043923 mang tên Danh C; 01 giấy phép lái xe mang tên Danh C; s tiền 1.700.000đ.
Cơ quan điều tra xử lý s tiền 700 000đ, xe mô tô 60B4-75084 và giấy ch ng nhận đăng ký xe chuyển giao cho Cơ quan thi h nh n dân sự huyện Đ để đ m b o khi xét xử vụ án. Đ i với tài s n tạm giữ của bị cáo Công thuộc tài s n của bị c o Công Cơ quan điều tra đã tr lại cho bị c o Công theo qu định.
- Thu giữ của bị cáo Ya L: 01 giỏ đeo m u đen ên trong có ch a c c đồ vật được niêm phong dán kín bằng ăng keo; 0 nhẫn kim loại màu vàng trên mặt nhẫn có đính 0 hạt dạng đ m u xanh dương; 0 vòng đeo ta có nhiều hạt tròn m u v ng đồng; 0 đồng hồ hiệu rado màu vàng; 01 giấy ch ng nhận đăng ký xe mô tô s 018320 mang tên Ka Nga; 01 giấy ch ng nhận đăng ký xe mô tô s 0038916 mang tên Ka Nga; 01 ch ng minh nhân dân s 250102178 mang tên K’Phai; 01 ch ng minh nhân dân s 250375434 mang tên Ya L; 01 điện thoại di động m u đen hiệu Mobistar B24I; 01 điện thoại di động hiệu Sam sung c m ng màu vàng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia m u đỏ đen; 0 túi nylon màu đen (bên trong có 01 hộp đang đậy nắp bên trong có 01 bịch m u đen buộc dây thun màu vàng, không kiểm tra bên trong, bên ngoài hộp có dán nhãn mác bông mai); 01 hộp dạng nắp màu trắng (bên trong có nhiều hạt tròn màu trắng (không kiểm tra các h t màu trắng bên trong, bên ngoài có gắn mắc thu c trị); 01 hộp màu xanh hình chữ nhật có nhiều chữ ti ng anh ở bên ngoài; 01 bịch nylon màu xanh có đựng 02 hộp ở trong và 01 thìa nhựa; 01 nhẫn tròn màu vàng nhạt bằng kim loại; 0 a lô m u đen;
Xe mô tô hiệu Yamha Exiter m u đỏ biển s 49E1-496.32; 02 giấ đăng kí xe mô tô s 018320, và s 0038916 mang tên Ka Nga, 01 điện thoại di động hiệu Sam sung c m ng m u v ng Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã xử lý vật ch ng tr lại cho Ka Nga theo qu định.
Đ i với ch ng minh nhân dân mang tên K’Ph, đâ l giấy tờ mà Ya L khai nhận nhặt được Cơ quan điều tra công an Đ xác minh chủ sở hữu và xử lý sau.
Đ i với ba lô mà bị cáo Ya L sử dụng để đựng cục đ , ị cáo Ya L đã l m thất lạc a lô trên nên Cơ quan điều tra không thu hồi được Riêng c c đồ vật còn lại thu giữ của bị cáo Ya L x c định không liên quan đ n vụ n Cơ quan điều tra đã xử lý tr lại cho bị cáo Ya L theo qu định.
- Thu giữ của bị cáo K’T: 0 điện thoại di động (m u xanh xám đen c s IMEI: 354204091871707); 01 ch ng minh nhân dân s 250700925 mang tên K’T Cơ quan điều tra đã xử lý tr cho bị cáo K’T; riêng ch ng minh nhân dân mang tên K’T chuyển theo hồ sơ vụ án phục vụ khi xét xử.
- Thu giữ của bị cáo L: C c đồ vật thu giữ tại nhà trọ gồm 01 bịch nylon m u đen ên trong có 01 vật thể dài 09cm (d ng hình trụ đường kính 1,5cm màu xám thân trơn kh ng c đường vân); 01vật thể rắn (d ng hình trụ dài 8,5cm đường kính 1,5cm m u đen kiểu dáng gi ng thanh sắt xây dựng); 01 vật thể rắn (dài 4cm d ng hình trụ đường kính 1,5cm m u đen trên thân c viền gi ng d ng thanh sắt xây dựng); 01 vật thể rắn (dài 4,5cm d ng hình trụ đường kính 1,5cm m u đen thân c viền gi ng d ng thanh sắt xây dựng); 01 vật thể rắn (dài 2,5cm d ng hình trụ đường kính 1,5cm m u đen thân có viền gi ng thanh sắt xây dựng); 01 vật thể rắn (dài 2,2cm d ng hình trụ c đường kính 1,5cm m u đen thân có viền gi ng thanh sắt xây dựng); 01 hộp diêm th ng nhất có nhiều que diêm; 01 hộp quẹt ga màu vàng; 01 nhiệt k hiệu SIKA nắp đỏ; 0 gương kính hình vuông cạnh 10cm; 01 bịch n lon m u đen ên trong có 0 gương kính vỡ một góc kích thước 06cm x 09cm; 01 nhiệt k hiệu AURORA nắp m u đỏ bên trong đã ị vỡ vụn nhỏ; 01 bộ gương kích thước 10cmx 0cm được dán keo cùng với 01 nhiệt k hiệu LILIKA m u đỏ; 01 bộ gương kính kích thước 10cmx10cm được d n ăng keo cùng với 01 nhiệt k hiệu TOKYO nắp màu xanh bên trong đã vỡ vụn.
Đồ vật thu giữ khác 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Yarus biển s 47M1-623.37 m u đen; 01 ch ng minh nhân dân s 241403268 mang tên Nguyễn Thị Thùy L; 01 Ch ng nhận đăng ký xe s 041820 mang tên Nguyễn Thị Thùy L; 01 thẻ ATM Agribank mang tên Nguyễn Thị Thùy L; 01 phi u thông tin khách hàng Sacombank Nguyễn Thị Thùy L; 01ch ng nhận b o hiểm TNDS s 2418050014021 mang tên Nguyễn Thị Thùy L; S tiền 000 000đ; 01 điện thoại di động OPPO (m u đen c s IMEI: 1868837037039159 kèm sim); hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ xe mô tô 47M1-62337; điện thoại di động Oppo còn lại Cơ quan điều tra đã tr lại cho bị cáo Linh.
- Thu giữ của bị cáo Vinh: S tiền 28 000 000đ; hiện chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.
- Thu giữ của bị cáo Ya M: 0 điện thoại di động hiệu Zipmobile màu vàng kèm sim; 01 xe mô tô hiệu Exciter biển s 49E1-520.98 m u đen, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.
- Thu giữ của bị cáo K: 0 đăng ký xe s 0184038 mang tên Bùi Trịnh Tùng; 01 ch ng minh nhân dân s 251136105 mang tên Nguyễn Văn K; 01 đồng hồ hiệu CASIO màu vàng; 01 vòng gỗ đeo ta có 5 hạt; 01 vòng đeo ta có 18 viên; 01 vòng đeo ta gồm 10 viên màu vàng; 01 mặt dây chuyền mặt phật bằng đ ; s tiền 28 500 000đ; 01 sim điện thoại; 01 diện thoại di động hiệu SamSung màu vàng cát kèm sim. Cơ quan điều tra đã xử lý vật ch ng tr lại cho bị cáo K theo qu định. Đ i với ch ng minh nhân dân s 251136105 mang tên Nguyễn Văn K lưu giữ hồ sơ vụ án.
Ngo i ra, Cơ quan C nh s t điều tra còn thu giữ c c vật ch ng:
- Thu giữ của bị hại ông Tường: 03 thanh chưa rõ chất liệu (hình trụ hình d ng bên ngoài gi ng thanh sắt phi 16 một mặt bên ngo i c m u đen, mặt còn l i c m u xám đen l i của ba thanh sắt màu trắng xám, kích thước của ba thanh t 3cm đến 5cm); 01 cục đ m u đen dạng hình bầu dục c ng (có chiều dài 16,5cm, ngang 11,5cm) là vật ch ng của vụ án, hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
- Thu giữ của anh Huỳnh Văn Long: 0 a lô đeo m u xanh; 0 hộp hình trụ có nắp đậy toàn bộ hộp được quấn ăng keo đen; 02 phong ì m u trắng đựng đồ vật ở trong hai phong ì đã d n kín miệng; 01 vật được quấn v i đỏ trắng ở phía ngoài; 01 túi nilon màu trắng (bên trong có 01 nhiệt kế, 01 Card visit taxi Lado, 01 tờ giấy kẻ ngang có chữ đỏ trên giấy); 01 túi nilon m u đen bên trong có 04 nhiệt k nắp m u đỏ; 01 điện thoại di động m u v ng đen loại BUK; 01 điện thoại di động c m ng m u đen Microsoft; 0 xe mô tô hiệu Sirius m u đỏ đen iển s 51M2-3628 (bên trong c p xe có 01 biển kiểm soát: 49E1-240.82). Do không liên quan đ n vụ n, nên Cơ quan điều tra đã ra xử lý vật ch ng tr lại cho anh Long.
- Thu thu giữ của anh K’Yên: 0 điện thoại di động Samsung (màu vàng đ ng, lo i cảm ứng s imei: 356400074398886/01, IMEI: 356401674398884/01 bên trong kèm theo sim); 0 điện thoại di động (phím bấm hiệu OTOTM151 màu đen bên trong c gắn sim); 0 a lô m u đen (đã qua sử dụng có hiệu Eastpak bên trong chứa 01 vật thể rắn hình bầu dục c kích thước 15cm x 9cm x 8cm được bọc bằng nilon m u v ng được dán băng keo trong được chứa trong một bọc nilon đen được niêm phong và có chữ ký xác nhận của người liên quan); 01 xe mô tô biển s 49M1- 5163 nhãn hiệu honda màu đỏ trắng. Do không liên quan đ n vụ n, trong khi đó anh K’Yên không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra đã chu ển đồ vật n đ n Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng để phục vụ điều tra n u như liên quan đ n một vụ án khác mà anh K’Yên thực hiện.
Về bồi thường thiệt hại: Qu trình điều tra, gia đình bị cáo K giao nộp s tiền 00 000 000đ cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng, sau đó xử lý vật ch ng tr cho bị hại anh Tường, nay ị hại anh Tường có đơn xin ãi nại cho bị cáo K. Bị cáo Ya L đã tự thỏa thuận bồi thường s tiền 50.000 000đ; Gia đình bị cáo Ya M đã tự thỏa thuận bồi thường s tiền 3 000 000đ; ị c o Vinh đã nộp s tiền 28 000 000đ; bị c o K’T đã nộp s tiền 50 000 000đ; ị c o Linh đã nộp s tiền 000 000đ, ị cáo C đã nộp s tiền 700 000đ
Đ i với người có tên Quang (kh ng xác định được nhân thân lai lịch) sử dụng s điện thoại 0 675653506 (0375653506 Qu trình điều tra, bị cáo K mượn của anh Quang 50 000 000đ Tu nhiên bị cáo K không nói cho anh Quang bi t sử dụng s tiền này vào mục đích l a đ o chi m đoạt tài s n.
Xác minh chủ thuê bao s điện thoại 01675653506 (0375653506) tên Phạm Quang Đạo, sinh năm 997, hiện cư trú: 407, Nguyễn Văn C , phường Lộc Phát, thành ph B, tỉnh Lâm Đồng. Theo ông Đạo khai nhận có đ ng tên chủ thuê bao s điện thoại trên; t kho ng tháng 4-2018, anh Đạo bán s điện thoại trên thông qua mạng xã hội nhưng không i t n cho ai Cơ quan C nh s t điều tra Công an huyện Đ ti p tục xác minh xử lý sau.
Tại b n án B n án s 97/2019/HS-ST ngày 03-7-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ đã tuyên b các bị cáo Nguyễn Văn K, bị cáo Ya L, bị cáo Ya M, bị cáo Ya Ư, bị cáo K’T, bị cáo Danh C, bị cáo Tôn Thất V, bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phạm tội L a đảo chiếm đo t t i sản”.
- Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 74; Điều 7; c c điểm b, s, x kho n 1, kho n 2 Điều 5 ; điểm a kho n Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 20 5, sửa đ i b sung năm 20 7 (sau đây gọi chung Bộ luật Hình sự năm 2015).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 08 năm tù Thời hạn tù tính t ngày bắt giam để thi hành án, Được tr thời hạn tạm giữ, tạm giam t ngày 08-9-2018 đ n ngày 20-4-2019.
- Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 74; Điều 17; các điểm b, s kho n 1 Điều 5 ; điểm a kho n Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 20 5
Xử phạt bị cáo Danh C 08 năm tù Thời hạn tù tính t ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08-9-2018.
- Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 74; Điều 17; các điểm b, r, s kho n 1 Điều 5 ; điểm a kho n Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 20 5
Xử phạt bị cáo Tôn Thất V 07 năm tù Thời hạn tù tính t ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26-9-2018.
- Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 74; Điều 17; các điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 5 ; điểm a kho n Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 20 5
Xử phạt bị cáo Ya M 07 năm tù Thời hạn tù tính t ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08-9-2018.
- Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 74; Điều 17; các điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 5 ; điểm a kho n Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 20 5.
Xử phạt bị cáo Ya L 08 năm tù Thời hạn tù tính t ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08-9-2018.
- Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 74; Điều 17; điểm s kho n Điều 51; điểm a kho n Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 20 5
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy L 07 năm tù Thời hạn tù tính t ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08-9-2018.
- Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 74; Điều 7; điểm m, r, s kho n Điều 5 ; điểm a kho n Điều 52; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 20 5
Xử phạt bị cáo Ya Ư 05 năm tù Thời hạn tù tính t ngày bắt tạm giữ, tạm giam 17-9-2018.
- Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 74; Điều 17; điểm b, m, r, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; điểm a kho n Điều 52; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị c o K’T 05 năm tù Thời hạn tù tính t ngày bắt tạm giữ, tạm giam 14-9-2018.
Ngày 04-7-2019 bị cáo Nguyễn Văn K kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.
Ngày 05/7/2019 các bị cáo Danh C, bị cáo Tôn Thất V, bị cáo Ya M kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.
T i phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo khai nhận thực hiện h nh vi như n n sơ thẩm, không thắc mắc khi u nại b n n sơ thẩm. Về kháng cáo, các bị cáo giữ ngu ên kh ng c o, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
Luật sư T nh o chữa cho bị cáo K cho rằng, bị cáo K được áp dụng các tình ti t gi m nhẹ qu định tại điểm b, s, x kho n Điều 51, một tình ti t gi m nhẹ qu định kho n 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 20 5, trong khi đó ị cáo không bị kháng cáo, bị kháng nghị, nên tình tình ti t gi m nhẹ qu định tại điểm x kho n Điều 51 đương nhiên không l m ất lợi cho bị cáo; đề nghi Tòa án áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quy t định m c hình phạt dưới m c thấp nhận khung hình phạt.
Luật sư Tru ền bào chữa cho bị cáo K cho rằng, bị cáo K bị quy k t vai trò chủ mưu l không đúng, m chỉ l đồng phạm vai trò giúp s c; bị cáo là lao động chính được chính quyền địa phương x c nhận, đề nghi Tòa án áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quy t định m c hình phạt như Luật sư T nh đề nghị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn c điểm a kho n Điều 355, Điều 356 của Bộ luật T tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của bị hại, của ngu ên đơn dân sự, của bị đơn dân sự; giữ nguyên b n n sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Thông qua một người có tên gọi l Tú (kh ng r lai lịch ở Thành ph H Chí Minh) giới thiệu với ị c o Ngu ễn Văn K rằng ị hại ông Võ Văn T có nhu cầu tìm mua “đá hủy sắt” là không có thật. Do vậ , ị c o K cùng c c ị c o Ya L, ị c o Tôn Thất V n ạc với c c ị c o Danh C, ị c o Ngu ễn Thị Thùy L, ị c o Ya M, ị c o K’T và ị c o Ya Ư cùng nhau thực hiện h nh vi l a đ o chi m đoạt t i s n của ị hại ông Tường để lấ tiền chia nhau Do vậ để thực hiện h nh vi l a đ o, c c ị c o n ạc phân công mỗi ị c o thực hiện một công việc, thủ đoạn như bị cáo K l người dẫn m i v tạo niềm tin cho ị hại ông Tường; ị c o Ya L đóng vai trò người có cục “đá hủy sắt” và giao cho c c ị cáo Ya Ư, ị c o K’T đóng gi l hai anh em v đóng vai con của ị c o Ya L, cùng trực ti p cầm đ đi gặp ị hại ông Tường; bị c o C được phân công nhiệm vụ chuẩn ị c c mẫu sắt gi để đ nh tr o khi cho ị hại ông Tường thử h ng, ị c o V có nhiệm vụ chở ị c o Ya Ư đi giao dịch, liên lạc với ị c o K v quan s t ị hại ông Tường t xa; bị c o L chuẩn ị cơm nước v cùng ị c o Ya M c nh giới nhằm ph t hiện ra những ai đi v o trong khu vực thử h ng để o cho c c ị c o kh c i t c ch xử lý
Sau khi bàn bạc, phân công, các bị c o đã chi m đoạt của bị hại ông Tường s tiền 400.000.000đ thông qua việc l a bán “đá hủy sắt”, sau đó các bị cáo chia s tiền chi m đoạt như bị cáo C được chia s tiền 40 000 000đ, bị cáo K’T được chia s tiền 50 000 000đ, bị cáo Ya Ư được chia s tiền 50 000 000đ, bị cáo Ya M được chia s tiền 13.000.000đ, bị cáo V được chia s tiền 30 000 000đ, bị cáo L được chia 7 000 000đ, bị cáo Ya L được chia s tiền 00 000 000đ nhưng đưa cho ị cáo K 50 000 000đ để tr cho ông Quang, bị cáo K s tiền 00 000 000đ Đ i chi u lời khai của t ng bị cáo, lời khai của bị hại, người liên quan, cấp sơ thẩm đ nh gi to n diện ch ng c , đã tu ên bị cáo Nguyễn Văn K, bị cáo Ya L, bị cáo Ya M, bị cáo Ya Ư, bị c o K’T, bị cáo Danh C, bị cáo Tôn Thất V, bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phạm tội L a đảo chiếm đo t tài sản” theo điểm a kho n 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 l có căn c .
Xét kháng cáo của các bị c o, đ i chi u với tài liệu ch ng c thể hiện: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã xâm hại đ n tài s n của người khác được pháp luật b o vệ; gây nh hưởng đ n an ninh trật tự tại địa phương. Ngo i ra, trước khi thực hiện hành vi, các bị c o đã n ạc, phân công t ng bị cáo chuẩn bị các công cụ và thực hiện nhằm mục đích chi m đoạt bằng được s tiền của bị hại, cụ thể bị cáo K là người thực hiện vai trò t ch c chỉ đạo, đồng thời tích cục thực hiện, bị cáo Ya M thực hiện công việc c nh giới, bị cáo Danh C chuẩn bị các công cụ cục đ , sắt gi , sắt thật; bị cáo Vinh chở bị cáo Ya Ư cầm cục “đá hủy sắt” Cấp sơ thẩm áp dụng tình ti t tăng nặng “ph m tội có tổ chức” qu định điểm a kho n Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 20 5.
Tuy nhiên, các bị c o được hưởng các tình ti t gi m nhẹ như ồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo cho các bị cáo K, bị cáo C, bị cáo V, bị cáo Ya M qu định tại điểm b, s kho n Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 20 5 là phù hợp. Bị hại xin gi m nhẹ hình phạt cho các bị cáo K, bị cáo C, bị cáo Ya M cũng đã được áp dụng kho n 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 20 5
Bị cáo K có b là ông Nguyễn Văn L có thành tích c ng hi n được tặng thưởng Huân chương; cấp sơ thẩm áp dụng tình ti t gi m nhẹ qu định tại điểm x kho n Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 20 5 l không đúng; ị cáo Vinh sau khi phạm tội đã đ n Cơ quan Công an “đầu thú”, cấp sơ thẩm áp dụng tình ti t gi m nhẹ qu định tại điểm r kho n Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 20 5 l không đúng; bị cáo Ya M l đồng bào dân tộc, nhận th c hạn ch , cấp sơ thẩm áp dụng tình ti t gi m nhẹ qu định tại điểm m kho n Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 20 5 l không đúng Do vậy các tình ti t gi m nhẹ nêu trên của bị cáo K, bị cáo V, bị cáo Ya M chỉ được áp dụng kho n 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 20 5 cần rút kinh nghiệm chung, đồng thời, cần sửa b n n sơ thẩm về áp dụng tình ti t gi m nhẹ của các bị cáo K, bị cáo V, bị cáo Ya M không gây bất lợi cho các bị cáo.
Về nhân thân c c ị c o C, ị c o V, ị c o Ya M đều đã phạm tội v ị xét xử phạt tù, tu được xóa n tích v không coi l tình ti t tăng nặng nhưng thể hiện ị c o không hướng thiện.
Đ i với ị c o K thông qua đ i tượng một người có tên gọi l Tú i t ị hại ông Tường có nhu cầu tìm mua “đá hủy sắt”; ị c o K thông qua ị c o Vinh liên lạc với ị c o Ya L để n “đá hủy sắt” cho ị hại ông Tường, sau đó ị c o K cùng c c ị c o khác n ạc phân công mỗi ị c o thực hiện một công việc, thủ đoạn như bị c o K l người dẫn m i v tạo niềm tin cho ị hại ông Tường, ị cáo K được chia nhiều hơn so với c c ị c o kh c. Do vậ , ị c o K tham gia vai trò chính, cấp sơ thẩm đ nh gi đúng vai trò của ị c o K.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo nhưng không có tình ti t gi m nhẹ mới, nên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên b n n sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận, nên mỗi bị cáo ph i chịu án phúc hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c điểm điểm a kho n Điều 355, Điều 356 của Bộ luật T tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn K, bị cáo Ya M, bị cáo Danh C, bị cáo Tôn Thất V, giữ nguyên b n án sơ thẩm. Xử:
Tu ên
ị c o Ngu ễn Văn K, ị c o Ya M, ị c o Danh C, ị c o Tôn Thất V phạm tội L a đảo chiếm đo t t i sản”.
Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 74; điểm a kho n Điều 52, c c điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 5 , Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 20 5 đ i với các bị cáo Nguyễn Văn K, bị cáo Ya M, bị cáo Danh C, bị cáo Tôn Thất V.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 08 năm tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bắt giam để thi hành án, được tr thời hạn tạm giữ, tạm giam t ngày 08-9-20 8 đ n ngày 23-4-2019.
Xử phạt bị cáo Danh C 08 năm tù Thời hạn tù tính t ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08-9-2018.
Xử phạt bị cáo Tôn Thất V 07 năm tù Thời hạn tù tính t ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26-9-2018.
Xử phạt bị cáo Ya M 07 năm tù Thời hạn tù tính t ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08-9-2018.
2. Về n phí: Căn c Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quy t 326 20 6 U TVQH 4 về n phí, lệ phí Tòa n. Mỗi bị cáo Ngu ễn Văn K, ị cáo Ya M, ị c o Danh C, ị c o Tôn Thất V ph i chịu 200 000đ n phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quy t định khác của b n n sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể t ngày h t hạn kháng cáo, kháng nghị.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (02); - Sở Tư ph p tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND hu ện Đ (02); - VKSND hu ện Đ (01); - Cơ quan CSĐT CA hu ện Đ (01); - Cơ quan THAHS CA hu ện Đ (01); - ị c o (01); - Hồ sơ THAHS (04 ; - Lưu hồ sơ; Án văn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Kim Đồng |