- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn C - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2026/HSST. Ngày: 15 - 6 - 2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lường Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lường Văn Chuyên;
Ông Nguyễn Đình Trọng.
- Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2
- Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Lầu A Thống - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2026/HSST, ngày 09/4/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2026/QĐXXST-HS, ngày 13/5/2026; Quyết định hoãn phiên toà số: 34/2026/QĐXXST-HS, ngày 25/5/2026 đối với bị cáo:
Quàng Văn C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19/8/1996 tại xã TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã TC, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Quàng Văn L, sinh năm: 1972 và bà Lò Thị X, sinh năm: 1972; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 06/5/2022 bị Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý; bị cáo bị bắt ngày 31/12/2025. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 45 phút, ngày 31/12/2025, tại khu vực tiểu khu X, xã TC, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an xã TC, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang: Quàng Văn C có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm:
01 gói nilon màu hồng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma tuý tổng hợp (Quàng Văn C khai là Heroine và ma tuý tổng hợp), có khối lượng 0,17 gam, trích toàn bộ 0,17 gam, ký hiệu C1 làm mẫu vật gửi giám định chất ma tuý. Còn lại 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đựng vào trong một phong bì bằng giấy có viền xanh đỏ rồi dán kín, tại mép dán phong bì đóng 02 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La để lưu hồ sơ vụ án.
- Một chiếc bật lửa ga màu đỏ;
- Một mảnh giấy bạc có vết cháy màu đen bên trên không có chất bám dính.
Kết luận giám định số 188/KL-KTHS, ngày 04/01/2026 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu C1 là ma tuý, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphene, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,17 gam”. Mẫu vật gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại cơ quan điều tra bị cáo Quàng Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/12/2025, Quàng Văn C bắt xe buýt từ nhà lên tiểu khu B, xã TC, tỉnh Sơn La mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Đến khu vực rừng ma tiểu khu B, xã TC, tỉnh Sơn La Quàng Văn C gặp và hỏi mua của một 01 người nam giới (Quàng Văn C không biết tên và địa chỉ ở đâu) được một gói ma túy bên trong chứa Heroine và hồng phiến trộn lẫn, với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Quàng Văn C cầm gói ma túy vừa mua được đi vào rừng ma thuộc tiểu khu B, xã TC, tỉnh Sơn La bóc gói ma tuý ra sử dụng một ít bằng hình thức đốt hít. Sử dụng xong, số ma tuý còn lại Quàng Văn C gói lại bỏ vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ xuống đường Quốc lộ 6 để bắt xe buýt về nhà, khi đi đến khu vực khách sạn MT thuộc tiểu khu X, xã TC, tỉnh Sơn La gặp tổ công tác Công an xã TC, tỉnh Sơn La yêu cầu kiểm tra ma tuý. Quá trình kiểm tra phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng như trên.
Tại Cáo trạng số: 21/CT-VKS - KV2, ngày 08/4/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La truy tố ra trước Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La để xét xử bị cáo Quàng Văn C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La trong phần tranh tụng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Quàng Văn C về điểm, điều, khoản và tội danh trên.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Quàng Văn C mức án từ 03 (ba) năm 02 (hai) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Quàng Văn C.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tuyên tich thu tiêu huỷ: Một mảnh nilon màu hồng; một mảnh giấy bạc, một bật lửa ga màu đỏ.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn C.
- Về quyền kháng cáo: Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo Quàng Văn C: Nhất trí như bản luận tội của Viện kiểm sát, xin giảm nhẹ hình phạt, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Bị cáo Quàng Văn C thừa nhận: Ngày 31/12/2025 Quàng Văn C bị phát hiện, bắt quả tang cất giữ trong người 01 gói ma tuý có khối lượng 0,17 gam, qua giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphene tại khu vực tiểu khu X, xã TC, tỉnh Sơn La. Mục đích cất giữ để sử dụng cho bản thân.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Kết luận giám định số 188/KL-KTHS, ngày 04/01/2026 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận, các bản tự khai của bị cáo; Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.
Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi cất giấu trái phép 0,17 gam chất ma tuý, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphene mục đích để sử dụng cho bản thân vào ngày 31/12/2025 của bị cáo Quàng Văn C đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự có mức phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Quàng Văn C là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Quàng Văn C tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điển s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Quàng Văn C có tiền án đã được đương nhiên xoá án tích là nhân thân xấu.
Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung. Nhất là công tác phòng chống tội phạm và tội phạm ma tuý trong giai đoạn hiện nay.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Về vật chứng:
Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được đựng vào trong một phong bì bằng giấy có viền xanh đỏ rồi dán kín, tại mép dán phong bì đóng 02 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La được lưu hồ sơ vụ án, tiếp tục được lưu giữ theo quy định.
Đối với: Một mảnh nilon màu hồng; một mảnh giấy bạc; một bật lửa ga màu đỏ là công cụ dùng vào việc phạm tội và là vật không còn giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu huỷ.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với người nam giới tại khu vực tiểu khu B, xã TC, tỉnh Sơn La là người mà Quàng Văn C khai đã bán ma tuý cho Quàng Văn C vài ngày 30/12/2025, tuy nhiên Quàng Văn C không biết họ và địa chỉ cụ thể của người này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra, xử lý là đảm bảo đúng quy định.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Quàng Văn Phóng, quá trình điều tra xác định được Quàng Văn Phóng không thuộc chủ thể của tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điều 256a Bộ luật Hình sự.
. Về án phí: Bị cáo Quàng Văn C là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm. Cần miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về Điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn C 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/12/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Quàng Văn C.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tich thu tiêu huỷ: Một bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu Thống Nhất; một mảnh giấy bạc có vết cháy màu đen; (vật chứng được đựng trong một phong bì thư niêm phong, dán kín, giấy niêm phong số 0002138); một mảnh ni lon màu hồng (vật chứng được đựng trong một phong bì thư niêm phong, dán kín, giấy niêm phong số 0002140), theo Quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKS-KV2 ngày 02/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La và được mô tả chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/4/2026 giữa Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Sơn La.
3. Về Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn nộp toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn C.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Quàng Văn C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15 tháng 6 năm 2026)./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Sơn La; - VKSND Tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 2 - Sơn La; - Phòng PV06 Công an tỉnh; - Trại giam Công an tỉnh; - Cơ quan THA hình sự Công an tỉnh; - Phòng THADS khu vực 2 – Sơn La; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Thị Hương |