- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyen thi t - tuyen"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị Thúy được ly hôn anh Nguyễn Văn Tuyên
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2026/HNGĐ-ST Ngày 15/4/2026 V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn La
2. Ông Nguyễn Văn Thanh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Bắc Ninh.
Đại viện viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Lương Bích Hảo - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.
Ngày 15/4/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 172/2025/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2025 về việc tranh chấp Hôn nhân và Gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54a/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/02/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 50/QĐST-HNGĐ ngày 16/3/2026 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 55/2026/TB-TA ngày 30/3/2026 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị Thúy, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn Nghĩa An, xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tuyên, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Nghĩa An, xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện cùng những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Triệu Thị Thúy trình bày như sau:
Ngày 03/01/2018 chị và anh Nguyễn Văn Tuyên kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn anh chị có cuộc sống hòa thuận trong một thời gian đến năm 2022 xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hai vợ chồng cãi vã, không có tiếng nói chung khiến tình cảm hai vợ chồng không còn như trước. Vợ chồng không còn thương yêu tin tưởng nhau nữa. Thậm chí anh Tuyên đã từng có hành vi bạo lực gia đình với chị. Mặc dù gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải nhưng vợ chồng không thể đoàn tụ. Vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi không ai quan tâm chăm sóc ai.
Nay chị xác định vợ chồng không còn chung sống với nhau được nữa, mỗi người có một cuộc sống riêng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án xem xét giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn Tuyên.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn Tuyên trong thời gian chung sống có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc Nhi, sinh ngày 17/10/2018 và cháu Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 04/11/2020. Các cháu hiện phát triển bình thường nên ly hôn chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Ngọc Nhi và đồng ý để anh Tuyên trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung Nguyễn Minh Khang mà không yêu ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị xác định vợ chồng không có vướng mắc nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai của đương sự, cháu Nguyễn Thị Ngọc Nhi trình bày như sau: Cháu là con của mẹ Triệu Thị Thúy và bố Nguyễn Văn Tuyên, hiện cháu đnag học lớp 2A3 trường tiểu học Nghĩa Phương 1. Nay bố mẹ cháu không ở với nhau nữa thì cháu có nguyện vọng ở với bố và bà nội.
* Tại biên bản xác minh với bà Bùi Thị Tiến, sinh năm 1974; Địa chỉ: thôn Nghĩa An, xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh là mẹ của anh Nguyễn Văn Tuyên. Tòa án được cung cấp như sau:
Ngày 03/01/2018 chị Triệu Thị Thúy và anh Nguyễn Văn Tuyên kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn anh chị về chung sống nhau tại thôn Nghĩa An, xã Nghĩa Phương. Quá trình chung sống, thời gian đầu anh chị hòa thuận sau một khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Gia đình đã khuyên bảo hòa giải nhiều lần nhưng không thể hàn gắn được. Nay chị Thúy đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tuyên thì gia đình cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Về con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 02 chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc Nhi, sinh ngày 17/10/2018 và cháu Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 04/11/2020. Hiện các cháu đang sống cùng anh Tuyên và bà, phát triển bình thường.
Anh Tuyên đang đi làm ăn kinh tế vẫn về thăm nhà, thường xuyên liên lạc với gia đình và đã biết việc chị Thúy xin ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Tuyên vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Triệu Thị Thúy có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Tòa án trong trường hợp con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc Nhi có nguyện vọng được ở với bố và bà nội thì chị tôn trọng ý kiến nguyện vọng của con, chị giữ nguyên các yêu cầu, ý kiến khác của mình. Bị đơn anh Nguyễn Văn Tuyên vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Triệu Thị Thúy được ly hôn anh Nguyễn Văn Tuyên
- Về con chung: Giao các con chung là Nguyễn Thị Ngọc Nhi, sinh ngày 17/10/2018 và Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 04/11/2020 cho anh Nguyễn Văn Tuyên trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
- Về tài sản và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Triệu Thị Thúy và anh Nguyễn Văn Tuyên không đề nghị giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Đơn khởi kiện của chị Triệu Thị Thúy cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp Hôn nhân và Gia đình. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị Thúy và anh Nguyễn Văn Tuyên đăng ký kết hôn ngày 03/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã Nghĩa Phương, tỉnh Bắc Ninh). Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Thúy và anh Tuyên là hợp pháp.
Về tình trạng hôn nhân, HĐXX xét thấy: Lời khai của chị Thúy phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định vợ chồng anh chị có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không còn yêu thương nhau nữa. Hiện tại vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Như vậy HĐXX xác định chị Thúy và anh Tuyên trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cùng nhau chia sẻ mọi việc bảo vệ hạnh phúc gia đình. Anh chị xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân đến nay không ai quan tâm qua lại, chăm sóc gì cho ai. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giải thích, phân tích cho chị Thúy tuy nhiên chị vẫn giữ nguyên yêu cầu và cương quyết xin ly hôn anh Nguyên. HĐXX thấy, mâu thuẫn giữa anh chị đã căng thẳng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần giải quyết cho chị Thúy được ly hôn anh Tuyên như vậy là phù hợp với Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị Triệu Thị Thúy và anh Nguyễn Văn Tuyên có 02 con chung là các cháu Nguyễn Thị Ngọc Nhi, sinh ngày 17/10/2018 và Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 04/11/2020. Khởi kiện chị Thúy đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung Nguyễn Thị Ngọc Nhi và đồng ý để anh Tuyên trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cháu Nguyễn Minh Khang mà không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Thúy có ý kiến đề nghị Tòa án xem xét nguyện vọng của các con chung. Cháu Nguyễn Thị Ngọc Nhi được Tòa án ghi lời khai có nguyện vọng được ở cùng bố sau khi bố mẹ ly hôn.
HĐXX thấy: Chị Thúy và anh Tuyên có 02 con chung hiện đang ở cùng anh Tuyên và bà nội, các cháu đều đang phát triển bình thường. Khi bố mẹ ly hôn cháu Nguyễn Thị Ngọc Nhi có nguyện vọng được ở với bố. Để tránh xáo trộn cuộc sống cũng như tâm lý của các con chung sau khi bố mẹ ly hôn nên việc giao 02 con chung cho anh Tuyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục khi ly hôn là chính đáng, phù hợp với nguyện vọng của các bên, phù hợp quy định của pháp luật, phù hợp với Điều 81, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Do chị Thúy và anh Tuyên không đề nghị về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, chị Thúy anh Tuyên có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Chị Thúy, Anh Tuyên có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Triệu Thị Thúy phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị Thúy được ly hôn anh Nguyễn Văn Tuyên
2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn Tuyên trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Nguyễn Thị Ngọc Nhi, sinh ngày 17/10/2018 và Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 04/11/2020
Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
Sau khi ly hôn chị Thúy có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.
Chị Thúy và anh Tuyên có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Triệu Thị Thúy chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001107 ngày 03/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị Thúy đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND Khu vực 4 - Bắc Ninh; - Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh; - UBND xã Nghĩa Phương - Bắc Ninh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hương |