vanban.org

Bản án 94/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ Tr được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Q Đ, (sinh ngày 07 tháng 01 năm 2022) cho bà Phạm Thị Mỹ Tr trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân"
  • Tòa quyết gì? Tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử:
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7- ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2026
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thanh Anh;

2. Bà Nguyễn Thị Đào;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 –Đà Nẵng;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 –Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 206/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/02/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2026/QĐST-HNGĐ ngày 13/3/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mỹ Tr, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn Tây Lộc, xã Tây H, thành phố Đ N. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Tây Lộc, xã Tây H, thành phố Đ N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ Tr trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn Q tự nguyện tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn vào năm 2022 tại UBND xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh (nay là xã Tây Hồ), thành phố Đà Nẵng. Qúa trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông Q không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên gây gỗ, đe dọa bà. Hiện tại bà và ông Q không có sống chung với nhau, mỗi người sống mỗi nơi. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không Đ được nên bà yêu cầu được ly hôn đối với ông Nguyễn Văn Q.

Về con chung: Bà và ông Q trong thời kỳ hôn nhân có với nhau 01 người con chung tên Nguyễn Q Đ, sinh ngày 07 tháng 01 năm 2022. Ly hôn, nguyện vọng của bà là muốn được trực tiếp nuôi chung và yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, sau đó bà rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Q: Sau khi Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng thụ lý vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập cũng như tống Đ hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Văn Q vắng mặt không có lý do. Do đó việc lấy lời khai của anh Nguyễn Văn Q và việc hòa giải không thực hiện được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 –Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và hướng giải quyết vụ án: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký cũng như Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của bị đơn chưa đảm bảo quy định của pháp luật.

Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Phạm Thị Mỹ Tr được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q; giao con chung Nguyễn Q Đ cho bà Phạm Thị Mỹ Tr trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, đủ 18 tuổi; các vấn đề về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Phạm Thị Mỹ Tr và ông Nguyễn Văn Q đăng ký kết hôn năm 2022 tại UBND xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh (nay là xã Tây Hồ), thành phố Đà Nẵng, ông Nguyễn Văn Q đang cư trú tại xã Tây H, thành phố Đ N. Bà Phạm Thị Mỹ Tr khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 51, 53, 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Q đã được tống Đ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Văn Q là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Qúa trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ Tr rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc cấp dưỡng nuôi con chung là hòan toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ Tr và ông Nguyễn Văn Q xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn đúng thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền, đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của bà T và ông Q là hôn nhân hợp pháp.

Qúa trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ Tr cho rằng cuộc sống chung giữa bà và ông Q xảy ra nhiều mâu thuẫn, ông Nguyễn Văn Q không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn, gây gỗ, đe dọa đến bà, bà và ông Q đã không còn sống chung với nhau, không ai quan tâm đến ai, không thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trên thực tế. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn Q vắng mặt, không tham gia tố tụng tại Tòa, không có ý kiến phản hồi. Theo đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa bà T và ông Q không có điều kiện để tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không Đ được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Phạm Thị Mỹ Tr được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q là phù hợp với thực tế và đúng quy định của pháp luật.

[2.2] Về con chung: Đối chiếu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa bà Phạm Thị Mỹ Tr và ông Nguyễn Văn Q có 01 con chung tên Nguyễn Q Đ, (sinh ngày 07 tháng 01 năm 2022). Quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Thị Mỹ Tr yêu cầu được nuôi con chung, ông Nguyễn Văn Q không có ý kiến phản hồi. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay con chung đang sinh sống cùng với bà T, được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao con chung Nguyễn Q Đ cho bà Phạm Thị Mỹ Tr trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, đủ 18 tuổi là đúng quy định pháp luật.

Ông Nguyễn Văn Q có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

[2.5] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Phạm Thị Mỹ Tr phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2 Điều 21, Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 51, 53, 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ Tr được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Q Đ, (sinh ngày 07 tháng 01 năm 2022) cho bà Phạm Thị Mỹ Tr trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Quyền khởi kiện của đương sự đối với việc giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung được đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Văn Q có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự.

3. Về án phí: Bà Phạm Thị Mỹ Tr chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Phạm Thị Mỹ Tr đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006439 ngày 02 tháng 12 năm 2025 tại Thi hành án Dân sự thành phố Đà Nẵng.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống Đ hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ