vanban.org

Bản án 94/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/11/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB lưu trữ hình ảnh liên quan đến vụ “Trộm cắp tài sản". Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HỒ VĂN THẢO - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/11/2024.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2025/HS-ST
Ngày: 26-08-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Phương Lan

2. Ông Nguyễn Ngọc Thạch

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 08 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 255/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 06 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 07 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 305/2025/QĐST-HS ngày 04 tháng 08 năm 2025 đối với bị cáo:

Hồ Văn T, giới tính: Nam; sinh năm 2003 tại: tỉnh K (tỉnh N); hộ khẩu thường trú: xã V, tỉnh K (xã N1, huyện N2, tỉnh N cũ); Chỗ ở: Không có chỗ ở ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Hồ Văn H, không rõ năm sinh và bà Phan Thị D, sinh năm 1981; Hoàn cảnh gia đình: Có 03 anh chị em; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/11/2024 đến nay. (Bị cáo có mặt)

Bị hại: Anh Nguyễn Bá H, sinh năm 1972; địa chỉ: phường Tân Thới Hiệp (phường Hiệp Thành, Quận 12 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. (Bị hại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 18/11/2024, sau khi chơi game tại tiệm Internet G địa chỉ Phường 11, quận Gò Vấp (nay là phường Thông Tây Hội), đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, Hồ Văn T và Phan Bảo Tr đi bộ đến quán ăn cơm gần tiệm Internet thì T nhìn thấy xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 50Y1-830.XX của anh Nguyễn Bá H đang dựng trước nhà số A đường T, Phường 16, quận Gò Vấp (nay là phường An Hội Đông), xe không có người trông coi. Do cần tiền tiêu xài, T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên nên một mình T đi bộ đến nhà số A đường T, thấy xe mô tô trên không khóa cổ nên lén lút dắt xe đẩy bộ đến tiệm sửa xe địa chỉ Phường 11, quận Gò Vấp (nay là phường Thông Tây Hội). Tại đây, T gặp anh Phạm Đình Huân (là chủ tiệm) nói: “ Xe bị mất chìa khóa, sửa giùm em”. Trong lúc T đẩy bộ xe mô tô biển số 50Y1-830.XX, anh Trần Võ Hoàng T1 xuất hiện, nghi ngờ T trộm xe nên đi theo đến tiệm sửa xe trên và hỏi T xe của ai thì T nói xe của T bị mất chìa khóa. Sau đó, anh T1 điện thoại báo Công an Phường 16, quận Gò Vấp đến làm rõ thì T bỏ chạy nhưng bị anh T1 cùng quần chúng nhân dân đuổi theo bắt giữ cùng vật chứng.

Ngoài ra, Hồ Văn T còn thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” vào ngày 08/10/2024 tại phường Phủ Hà, Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường Phan Rang, tỉnh Khánh Hòa). Tại văn bản số 01/CV-VKSPRTC ngày 29/04/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Phan Rang

- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận thể hiện không đồng ý chuyển vụ án hình sự cho Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để nhập vụ án.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 254/KL-HĐĐGTS ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Uỷ ban nhân dân quận Gò Vấp kết luận: 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Honda Wave, biển số 50Y1-830.XX, số khung RLHJA397NY131314, số máy JA39E2628329, đã qua sử dụng có giá 14.766.667 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 50Y1-830.XX. Qua xác minh xe mô tô trên do anh Nguyễn Bá H là chủ sở hữu hợp pháp; Cơ quan điều tra đã hoàn trả cho người bị hại.

Tại bản cáo trạng số 269/CT-VKS-GV ngày 09/06/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7) đã truy tố Hồ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị hại là anh Nguyễn Bá H xác nhận đã nhận lại xe mô tô mà bị cáo Hồ Văn T chiếm đoạt nên không yêu cầu gì khác đối với bị cáo Hồ Văn T.

Tại phiên toà bị cáo Hồ Văn T khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7), Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai trái. Bị cáo chỉ xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Hồ Văn T như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hồ Văn T từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh) (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 công bố bản cáo trạng thì Hồ Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh), với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7) và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:

Vào ngày 18/11/2024, Hồ Văn T đã lén lút lấy trộm 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Honda Wave, biển số 50Y1-830.XX, số khung RLHJA397NY131314, số máy JA39E2628329 của anh Nguyễn Bá H.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 254/KL-HĐĐGTS ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Uỷ ban nhân dân quận Gò Vấp kết luận: 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Honda Wave, biển số 50Y1-830.XX, số khung RLHJA397NY131314, số máy JA39E2628329, đã qua sử dụng có giá 14.766.667 đồng.

Vì vậy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7) truy tố bị cáo Hồ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Hồ Văn T là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, trị an xã hội. Do vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng nhằm giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo không có việc làm ổn định nên quyết định miễn hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Bá H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Honda Wave, biển số 50Y1-830.XX, số khung RLHJA397NY131314, số máy JA39E2628329, đã qua sử dụng có giá 14.766.667 đồng cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Bá H. Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại không xem xét lại.

+ Đối với 01 USB lưu trữ hình ảnh liên quan đến vụ “Trộm cắp tài sản", xét thấy đây là ghi hình ghi nhận lại sự việc các bị cáo trộm cắp tài sản là chứng cứ vụ án, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về tình tiết khác:

- Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, Hồ Văn T còn thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” vào ngày 08/10/2024 tại phường Phủ Hà, Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường Phan Rang, tỉnh Khánh Hòa). Tại văn bản số 01/CV-VKSPRTC ngày 29/04/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa) thể hiện không đồng ý chuyển vụ án hình sự cho Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để nhập vụ án.

- Đối với Phan Bảo Tr, quá trình điều tra xác định T không nói ý định trộm cắp cho Tr biết, Tr không tham gia bàn bạc và không cùng thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 50Y1-830.XX. Do đó không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/11/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

+ Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB lưu trữ hình ảnh liên quan đến vụ “Trộm cắp tài sản".

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ