vanban.org

Bản án 94/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tô Thị L - Nguyễn Minh C"
  • Căn cứ chính? Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 94/2025/HNGĐ- ST
Ngày 26/5/2025
V/v: “Xin ly hôn ”

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

T A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, T NH B N T E

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Nam

Bà Trần Thị Sẩm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Sương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Mỹ Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 124/2025/TLST- HN, ngày 17 tháng 4 năm 2025; về việc “xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/2025/QĐXXST-HN ngày 18/6/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Tô Thị L sinh 1982; Trú tại: Ấp Phú L, xã An Đ, huyện Mỏ Cày N, tỉnh Bến Tre. (có yêu cầu xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Nguyễn Minh C, sinh 1983; Địa chỉ: Ấp Phú Lộc T, xã An Đ, huyện Mỏ Cày N, tỉnh Bến Tre. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị L trình bày:

Vào năm 2003 tôi và anh C đã tiến tới hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, đã sống ly thân từ tháng 6/2024 đến nay. Nay tôi xin ly hôn với anh C.

Quá trình sống chung vợ chồng có 04 con chung tên Nguyễn Văn Đan Trường, sinh năm 2004, Nguyễn Thị Ánh Ngọc, sinh ngày 22/02/2007, Nguyễn Văn Khánh sinh ngày 16/02/2010, Nguyễn Thị Ngà, sinh ngày 24/7/2012. Nay tôi xin trực tiếp nuôi cả hai con Khánh và Ngà, không yêu cầu anh C cấp dưỡng. Các con Trường và Ngọc đã trưởng thành có thể sống tự lập, nên không yêu cầu giải quyết

Tài sản chung; Nợ chung: Không có.

Tại phiên toà bị đơn anh Nguyễn Minh C Trình bày: Thống nhất lời trình bày và đồng ý với các yêu cầu của chị L.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm cho rằng các giai đoạn tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện nhiệm vụ tuân thủ đúng các quy định pháp luật, người tham gia tố tụng bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án trong các phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải nhưng không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên đề nghị tiếp tục xét xử vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Áp dụng điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.

Về con chung: Đề nghị giao cả hai con chung Nguyễn Văn Khánh sinh ngày 16/02/2010, Nguyễn Thị Ngà, sinh ngày 24/7/2012 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đối với các con Trường và Ngọc đã trưởng thành, các bên không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Tài sản chung; Nợ chung: Không có, nên không xem xét.

Về án phí: Buộc nguyên đơn chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:

* Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1] Về quyền khởi kiện: Chị L cho rằng quá trình sống chung giữa vợ chồng không còn hạnh phúc nên muốn ly hôn, do đó chị khởi kiện. Căn cứ điều 51 luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 điều 68, điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chị L có quyền khởi kiện.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Đối với yêu cầu của chị L là tranh chấp về việc ly hôn. Căn cứ khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và nơi cư trú của bị đơn thuộc xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam. Căn cứ điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam thụ lý giải quyết là phù hợp pháp luật.

[3] Chị L có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị L.

* Về nội dung giải quyết vụ án:

[1] Chị L, anh C kết hôn trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết và tự nguyện tiến đến hôn nhân, anh, chị có đăng ký kết hôn tại UBND cấp có thẩm quyền, do đó hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn anh chị sống có hạnh phúc, lẽ ra anh, chị phải biết gìn giữ, nhưng từ những mâu thuẫn trong đời sống thường ngày mà anh, chị không tìm cách để khắc phục, sống ly thân bỏ mặt nhau. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết chị L vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn, còn anh C trình bày tại pghiên toà cũng đồng ý ly hôn. Xét mâu thuẫn vợ chồng anh chị là có thật, nếu để anh chị tiếp tục chung sống thì mục đích hôn nhân sẽ không đạt được, do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L là phù hợp.

[2] Về con chung: Vợ chồng anh chị có 04 con chung tên Nguyễn Văn Đan Trường, sinh năm 2004, Nguyễn Thị Ánh Ngọc, sinh 22/02/2007, Nguyễn Văn Khánh sinh ngày 16/02/2010, Nguyễn Thị Ngà, sinh ngày 24/7/2012, Đối với các con Trường và Ngọc đã trưởng thành, các bên không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét., còn các con Ngọc và Khánh từ lúc vợ chồng anh chị sống ly thân thì các con sống cùng chị L, các bé đã thích nghi với việc chăm sóc, giáo dục của chị L, nguyện vọng của các bé sau khi được hỏi ý kiến cũng có nguyện vọng sống cùng chị L, nên giao bé Ngọc và Khánh cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị L không yêu cầu cấp dưỡng, nên ghi nhận.

[3] Tài sản chung; Nợ chung: Không có nên không xem xét.

[4] Chị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUY T ĐỊNH:

Áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng khoản 5 điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tô Thị L. Chị Tô Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Minh C.

Về con chung: Chị L được trực tiếp nuôi các con tên Nguyễn Văn Khánh sinh ngày 16/02/2010, Nguyễn Thị Ngà, sinh ngày 24/7/2012, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với các con Trường và Ngọc đã trưởng thành, các bên không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Sau khi ly hôn, cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung, người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, khi có căn cứ một hoặc cả hai bên chị L, anh C được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung;Nợ chung: Không có nên không xem xét.

Án phí: Chị L chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011703 ngày 15/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam.

Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Cỡ chữ