- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trang yêu cầu ly hôn với anh Quốc"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thảo T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2025/HNGĐ-ST Ngày 03-4-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lộc;
2. Ông Lê Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hữu Xuân Lộc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Cẩm Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 359/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thảo T, sinh năm: 1993.
Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
2. Bị đơn: Anh Đinh Ngọc Q, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định.
(Chị T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Q vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Thảo T trình bày:
+ Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thảo T và anh Đinh Ngọc Q tự nguyện tìm hiểu, được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định vào ngày 04 tháng 7 năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống; anh Q không chí thú làm ăn, quan tâm xây dựng hạnh phúc gia đình và vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 9/2022 cho đến nay. Chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng trầm trọng kéo dài nhưng không có biện pháp hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Toà giải quyết cho ly hôn với anh Đinh Ngọc Q.
+ Về con chung: Có 02 người con chung là Đinh Trần Tố M, sinh ngày 15/10/2017 và Đinh Phương Q1, sinh ngày 30/10/2020. Ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý người con chung Đinh Phương Q1; giao người con chung Đinh Trần Tố M cho anh Đinh Ngọc Q được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý. Chị T và anh Q không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Đinh Ngọc Q: Anh Đinh Ngọc Q có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại khu phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định. Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án, nhưng anh Q không có văn bản trình bày ý kiến về việc Tòa án thụ lý vụ kiện gửi đến Tòa án; cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến và hoà giải.
- Tại phiên toà:
Nguyên đơn chị T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị T giữ nguyên ý kiến và yêu cầu nêu trên.
Bị đơn anh Q vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” và bị đơn cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo quy định của khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về việc giải quyết vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận cho chị Trần Thị Thảo T được ly hôn với anh Đinh Ngọc Q.
+ Về con chung: Có 02 người là Đinh Trần Tố M, sinh ngày 15/10/2017 và Đinh Phương Q1, sinh ngày 30/10/2020.
+ Giao người con chung Đinh Phương Q1 cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý và giao người con chung Đinh Trần Tố M cho anh Q được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh Q không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
+ Về án phí sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Trần Thị Thảo T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí , lệ phí Tòa án số : 0004488 ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chị T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vu ̣ kiện “Ly hôn” và người bị kiện cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Định. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vu ̣ kiện thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Trần Thị Thảo T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Đinh Ngọc Q đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn chị T và bị đơn anh Q.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thảo T và anh Đinh Ngọc Q kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định vào ngày 04 tháng 7 năm 2016. Lời trình bày của chị T là phù hợp với tài liệu chứng cứ do chị T nộp kèm theo đơn khởi kiện là Trích lục kết hôn số: 302/TLKH-BS, ngày 29/8/2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định cấp cho Trần Thị Thảo T và Đinh Ngọc Q (Bản sao). Nên hôn nhân giữa chị T và anh Q là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị T cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn và mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống; anh Q không chí thú làm ăn, quan tâm xây dựng hạnh phúc gia đình mà cờ bạc và vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 9/2022 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án cho anh Q, nhưng anh Q không có văn bản trình bày ý kiến đối với việc Tòa án thụ lý vụ án gửi đến Tòa án; không đến Tòa án để trình bày ý kiến, hoà giải và tại phiên tòa anh Q vắng mặt. Điều này cho thấy, vợ chồng sống không hạnh phúc nhưng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét hôn nhân giữa chị Trần Thị Thảo T và anh Đinh Ngọc Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có duy trì cũng không đem lại kết quả. Điều này phù hợp với thực tế và phù hợp với kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị T, anh Q tại địa phương nơi cư trú. Do đó, chấp nhận cho chị Trần Thị Thảo T được ly hôn với anh Đinh Ngọc Q là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Có 02 người con chung là Đinh Trần Tố M, sinh ngày 15/10/2017 và Đinh Phương Q1, sinh ngày 30/10/2020. Lời trình bày của chị T phù hợp với tài liệu, chứng cứ mà chị T đã nộp kèm theo Đơn khởi kiện là Giấy khai sinh của Đinh Trần Tố M, sinh ngày 15/10/2017 (Bản phô tô – đã được đối chiếu với bản chính) và Giấy khai sinh của Đinh Phương Q1, sinh ngày 30/10/2020 (Bản phô tô – đã được đối chiếu với bản chính).
Chị Trần Thị Thảo T yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý người con chung là Đinh Phương Q1 và giao người con chung là Đinh Trần Tố M cho anh Q được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý.
Xét yêu cầu về nuôi con của chị T là chính đáng, phù hợp với nguyện vọng của cháu M; phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị T là giao người con chung là Đinh Phương Q1 cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý và giao người con chung là Đinh Trần Tố M cho anh Q được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu, nên không xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bên kia. Khi cần thiết chị T, anh Q có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị Thảo T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do không làm việc được với bị đơn anh Đinh Ngọc Q nên vấn đề này sẽ được xem xét trong một vụ án khác, nếu các bên đương sự có yêu cầu.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Trần Thị Thảo T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí , lệ phí Tòa án số : 0004488 ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự hu yện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chị Trần Thị Thảo T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
Về đề nghị của Kiểm sát viên hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; các điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thảo T.
1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thảo T được ly hôn với anh Đinh Ngọc Q.
2. Về con chung: Có 02 người con chung là Đinh Trần Tố M, sinh ngày 15/10/2017 và Đinh Phương Q1, sinh ngày 30/10/2020
Giao người con chung là Đinh Phương Q1 cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý và giao người con chung là Đinh Trần Tố M cho anh Q được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Thảo T và anh Đinh Ngọc Q không ai cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bên kia. Khi cần thiết chị T, anh Q có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không xem xét trong vụ án này. Khi nào chị Trần Thị Thảo T và anh Đinh Ngọc Q có tranh chấp, yêu cầu thì Tòa án thụ lý, giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị Thảo T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004488 ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chị Trần Thị Thảo T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thảo T và anh Đinh Ngọc Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND H.Phù Mỹ; - Các đương sự; - THADS H.Phù Mỹ; - UBND thị trấn Phù Mỹ; - Lưu VP- HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bá Tùng |