- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi lại quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận háng cáo của bị đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 166 Bộ luật d n sự
| T A ÁN NH N D N T NH B NH THU N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2025/DS-PT Ngày: 13-5-2025 V/v: Tranh ch p quyền sử dụng đ t và đòi lại quyền sử dụng đ t |
NHÂN DANH
NƯỚC C NG H A X H CHỦ NGH A V T NAM
T A ÁN NH N D N T NH B NH THU N
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Dũng, bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Trần Quốc Huy Thư Toà án nh n d n
t nh B nh Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên
tòa: Bà Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nh n d n t nh B nh Thuận
xét xử phúc thẩm công hai vụ án d n sự thụ l số 172/2024/TLPT-DS ngày
09/10/2024 về việc “Tranh ch p quyền sử dụng đ t và đòi lại quyền sử dụng
đ t ”. Do Bản án d n sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 03 tháng 7 năm
2024 của Tòa án nh n d n huyện Tánh Linh bị háng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 244/2024/QĐ – PT
ngày 18/11/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 189/2024/QĐ-PT ngày
17/12/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2025/QĐPT-DS ngày
06/01/2025 và thông báo mở lại phiên tòa số 58/2025/TB-TA ngày 28/4/2025
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Tr sinh năm 1963; Địa ch cư trú:
Đội 11 thôn Đ xã An Vĩnh huyện L t nh Quảng Ngãi. (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: bà Võ Thị Bích L sinh năm 1987; Địa
ch cư trú: hu phố L thị trấn L huyện Tánh Linh t nh B nh Thuận. Theo văn
bản ủy quyền ngày 27/10/2023. (Có mặt.)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C sinh năm 1979; Địa ch cư trú: xóm 3,
thôn 8 xã G huyện T t nh B nh Thuận. (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phương N sinh năm 1981;
Địa ch cư trú: 200 Cách Mạng Tháng 8 hu phố 6 thị trấn V huyện Đ t nh
B nh Thuận. (Giấy ủy quyền ngày 25/10/2024)(vắng mặt).
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị M sinh năm
1965; nơi cư trú: Đội 11 thôn Đ xã An Vĩnh huyện L t nh Quảng Ngãi. (Vắng mặt.)
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị M: Bà Võ Thị Bích L,
sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu phố Lạc Hưng 1 thị trấn L huyện T t nh B nh Thuận. Theo văn bản ủy quyền ngày 27/10/2023.(Có mặt.)
4.Người kháng cáo: bị đơn, bà Nguyễn Thị C.
N DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn - ông Nguyễn Văn Tr và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan – bà Trần Thị M trình bày: Nguyên đơn hởi iện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị C phải chấm dứt hành vi chiếm giữ trả lại cho vợ chồng nguyên đơn quyền sử dụng diện tích 4 03 mét ngang mặt tiền đường bê tông (212 9m² đất ở nông thôn và c y l u năm); thuộc một phần diện tích của thửa đất số 422 tờ bản đồ số 17 giấy chứng nhận số L046917 cấp ngày 22/6/1998 mang tên Nguyễn Văn Tr (nay là thửa đất số 73 tờ bản đồ số 171 mảnh ch nh l thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Tánh Linh đo vẽ ngày 14/5/2024) tọa lạc tại thôn 8 xã G huyện Tánh Linh. Hiện nay Tr phần đất bà Cúc lẫn chiếm sử dụng; bà Cúc đã làm nhà cấp 4 nên hông thể tháo dỡ di dời. Do vậy nguyên đơn đồng giao cho bà Cúc quyền sử dụng phần diện tích đất đã lấn chiếm và yêu cầu bà Cúc phải hoàn lại giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn theo giá trị được định giả trong quá tr nh giải quyết vụ án.
Đối với các hoản chi phí tố tụng mà nguyên đơn đã tạm ứng trong quá
tr nh giải quyết vụ án th nguyên đơn yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
Căn cứ để nguyên đơn đưa ra yêu cầu là hoảng năm 1997 vợ chồng
ông Nguyễn Văn Tr, bà Trần Thị M có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Thường bà Võ Thị T (cha mẹ của ông Tr) diện tích hoảng 1.900m² đất thổ canh thổ cư với giá 05 ch vàng 24 ; đến năm 1998 làm thủ tục và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L046917, ngày 22/6/1998 mang tên Nguyễn Văn Tr tọa lạc tại thôn 8 xã G huyện Tánh Linh. Sau đó vợ chồng ông Tr bà Mười x y căn nhà cấp 4 Tr đất để ở. Trong thời gian sử dụng đất vợ chồng ông Tr có cho người em gái là bà Nguyễn Thị T xây 01 i ốt nhỏ Tr đất để làm nghề uốn tóc; sau đó bà T nh theo chồng hông sử dụng i ốt này nữa bà Nguyễn Thị C sau hi ly hôn chồng về sinh sống trong i ốt chiếm giữ đất và nảy sinh tranh chấp với vợ chồng ông Tr. Sự việc tranh chấp đất đai giữa hai bên được Tòa án nh n d n huyện Tánh Linh và Tòa án nh n d n t nh B nh Thuận xét xử từ năm 2010 đến năm 2012; ết quả xét xử của Tòa án t nh B nh Thuận chấp nhận giao cho bà Cúc được sử dụng diện tích đất chiều
ngang 8 2m chiều dài 54m Tr đất có i ốt; vợ chồng ông Tr được quyền sử
dụng diện tích đất còn lại có chiều ngang là 33 4m chiều dài 54m. Sau hi
Tòa án nh n d n t nh B nh Thuận xét xử xong bản án phúc thẩm có hiệu lực
thì vợ chồng ông Tr về huyện L Sơn t nh Quảng Ngãi làm nghề biển sinh
sống ít về địa phương. Đến hoảng năm 2022 vợ chồng ông Tr vào lại xã G
iểm tra nhà cửa đất đai th mới phát hiện bà Cúc đã phá dỡ i ốt x y nhà mới
lấn qua phần diện tích đất còn lại của vợ chồng ông Tr hoảng hơn 4 mét
ngang và dùng lưới B40 bao quanh toàn bộ thửa đất trong đó có cả căn nhà
cấp 4 của vợ chồng ông Tr. Như vậy theo bản án phúc thẩm th bà Cúc ch
được giao sử dụng diện tích chiều ngang là 8 2 mét nhưng hiện nay bà Cúc đã
x y nhà lẫn qua đất của vợ chồng ông Tr hoảng hơn 4 mét. Vợ chồng ông Tr
yêu cầu UBND xã G giải quyết tranh chấp nhưng hông thành nên hởi iện
đến Tòa án.
* Bị đơn - bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà Nguyễn Thị C hông đồng
với yêu cầu hởi iện của ông Nguyễn Văn Tr. Bởi v :
Bà Nguyễn Thị C là em gái của ông Nguyễn Văn Tr. Năm 1994 cha
mẹ bà Cúc là ông Nguyễn Thường bà Võ Thị Tư được nhà nước cấp quyền
sử dụng đất lúa và đất thổ cư tọa lạc tại xã G. Sau hi cấp hộ gia đ nh ông
Thường bà Tư cùng quản l sử dụng đất; đến hoảng 1997 - 1998 th vợ
chồng ông Tr do hó hăn nên xin về ở tạm Tr đất của ông Thường bà Tư.
Trong thời gian ở chung gia đ nh hông biết v sao mà ông Tr được cấp
quyền sử dụng thửa đất số 422 tờ bản đồ số 17 có nguồn gốc là của ông T, bà
T. Vợ chồng ông Tr ở Tr đất này đến hoảng năm 2007 bỏ về Quãng Ngãi.
Cùng thời điểm năm 2007 ông T, bà T làm thủ tục ủy quyền cho bà C được
sử dụng toàn bộ diện tích đất thổ cư của gia đ nh đến hoảng năm 2008 bà C
tiến hành x y dựng nhà ở. Quá tr nh sử dụng đất th vợ chồng ông Tr có xảy ra
tranh chấp và hởi iện bà T, bà C; ết quả xét xét xử Tòa án chấp nhận yêu
cầu hởi iện của ông Tr và cũng từ thời điểm đó vợ chồng ông Tr chuyển về
Quảng Ngãi ở đến nay hông quản l sử dụng đất. Hiện tại Tr phần đất tranh
chấp có căn nhà x y cấp 4 của bà C, bà C x y dựng nhà cửa hông xảy ra
tranh chấp với ai đất đai là của ông T, bà T ủy quyền sử dụng cho bà C chứ
hông phải của vợ chồng ông Tr. Do đó việc ông Tr hởi iện yêu cầu bà C
trả lại quyền sử dụng đất là hông có căn cứ nên bà C hông chấp nhận.
Những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:
- Nguyên đơn cung cấp: Bản sao căn cước công d n bản sao Bản án
d n sự phúc thẩm số 21/2012/DS-PT ngày 17/4/2012 của Tòa án nh n d n
t nh B nh Thuận bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất biên bản hòa
giải tranh chấp của Ủy ban nh n d n xã G mảnh ch nh l thửa đất đơn xin
miễn nộp tiền tạm ứng án phí đơn đề nghị hông tiến hành hòa giải theo Luật
hòa giải đối thoại và giấy ủy quyền.
- Bị đơn cung cấp tài liệu chứng cử: Bản sao sổ hộ hẩu gia đ nh và
chứng minh nh n d n của ông Nguyễn T bà Võ Thị T bản sao giấy ủy quyền ngày 07/01/2010 của bà T cho bà C; bản phô tô giấy ủy quyền ngày 01/5/2007 và Công văn số 61/UBND-SX, ngày 01/02/2012.
- Tòa án cấp sơ thẩm thu thập các tài liệu sau đ y: Biên bản ghi lời
hai của ông Nguyễn Văn Tr, bà Trần Thị M chị Võ Thị Bích L, bà Nguyễn Thị C; biên bản xem xét thẩm định tại chỗ; mảnh trích đo địa chính của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Tánh Linh và biên bản định giá tài sản.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 03 tháng 7
năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh đã quyết định:
Căn cứ vào :
1. khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; các Điều 147,
157, 165, 203, 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
2. Các Điều 163, 164, khoản 1 Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015;
3. Khoản 1 Điều 12 và khoản 5 Điều 166 Luật đất đai năm 2013.
4. Khoản 2 Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Nguyễn Văn Tr.
Buộc bà Nguyễn Thị C phải chấm dứt hành vi lấn chiếm quyền sử dụng
thửa đất số 422, tờ bản đồ số 17, giấy chứng nhận số L046917, cấp ngày 22/6/1998 mang tên Nguyễn Văn Tr (nay là thửa đất số 73, tờ bản đồ số 171, mảnh chính lý thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Tánh Linh đo về ngày 14/5/2024 kèm theo bản án) của vợ chồng ông Nguyễn Văn Tr, bà Trần Thị M.
Buộc bà Cúc phải có nghĩa vụ hoàn lại cho vợ chồng ông Nguyễn Văn
Tr, bà Trần Thị M giá trị quyền sử dụng đất bị lấn chiếm là 241.800.000 đồng. Bà Nguyễn Thị C được quyền sử dụng diện tích 4,03m ngang mặt tiền đường bê tông (212 9m² đất ở nông thôn và c y l u năm); thuộc một phần diện tích của thửa đất số 422, tờ bản đồ số 17, giấy chứng nhận số L046917, cấp ngày 22/6/1998 mang tên Nguyễn Văn Tr (nay là thửa đất số 73, tờ bản đồ số 171, mảnh ch nh lý thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Tánh Linh đo vẽ ngày 14/5/2024 kèm theo bản án) tọa lạc tại thôn 8, xã G, huyện Tánh Linh, t nh Bình Thuận.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị C phải chịu toàn bộ các
khoản ch phí tố tụng với số tiền 7.534.000 đồng. Bà Cúc phải có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Nguyễn Văn Tr 7.534.000 đồng chi phí tố tụng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành ản (đối
với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Điều 468 của Bộ luật dân sự
năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền và nghĩa vụ
thi hành án và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Sau hi xét xử sơ thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị C kháng cáo toàn bộ
Bản án sơ thẩm. Người háng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:
Sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nh n d n huyện Tánh Linh theo hướng không
chấp nhận toàn bộ yêu cầu hởi iện của ông Nguyễn Văn Tr.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
-Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu hởi iện đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm không chấp nhận háng cáo của bị đơn.
-Bị đơn người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vắng mặt giữ nguyên
yêu cầu háng cáo và đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
-Kiểm sát viên Viện iểm sát nh n d n t nh B nh Thuận phát biểu
iến Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử
đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự từ hi thụ l vụ
án để xét xử phúc thẩm đến trước hi nghị án; các đương sự tham gia tố tụng
chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự.
Về nội dung vụ án: quá tr nh tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm phiên tòa
phúc thẩm cũng như các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án có
đủ căn cứ xác định: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu hởi iện của
nguyên đơn là có căn cứ. Bị đơn háng cáo nhưng hông cung cấp thêm
chứng cứ g để chứng minh cho háng cáo của m nh. Đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận háng cáo của nguyên đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tại
phiên tòa nguyên đơn cung cấp thêm một số h nh ảnh thể hiện bị đơn cố t nh
x y dựng hàng rào Tr phần đất của ông Tr đang hởi iện đòi lại. Do đó Kiểm
sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị đơn phải chấm dứt hành vi lấn
chiếm đất của nguyên đơn buộc bị đơn có nghĩa vụ tháo dỡ công tr nh x y
dựng lấn chiếm đất của nguyên đơn
NH N ĐỊNH CỦA T A ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét
tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm
sát, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: bị đơn kháng cáo trong thời hạn và đúng quy
định pháp luật nên vụ án được xem xét theo tr nh tự thủ tục phúc thẩm; Tòa án
cấp sơ thẩm thụ l và giải quyết yêu cầu hởi iện của nguyên đơn là đúng
quy định tại hoản 2 hoản 9 Điều 26 điểm a hoản 1 Điều 35 điểm a hoản
1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng d n sự. Tại phiên tòa bị đơn háng cáo nhưng
vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt do đó HĐXX xét xử vắng mặt đương sự theo hoản 3 Điều 296 Bộ Luật
tố tụng d n sự.
[2] Xét háng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: đối tượng có
tranh chấp trong vụ án là thửa đất số 422, diện tích 1900m2, tờ bản đồ số 17, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L046917, được UBND huyện Tánh Linh cấp cho ông Nguyễn Văn Tr ngày 22/6/1998, tọa lạc tại thôn 8, xã G, huyện Tánh Linh, t nh Bình Thuận. Theo Mảnh ch nh lý thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Tánh Linh đo vẽ ngày 14/5/2024 thửa đất 422 được tách thành hai thửa có số thửa: thửa đất số 73, diện tích 1.450,5m2 và thửa đất số 72 , diện tích 430m2, cùng thuộc tờ bản đồ số 171. Việc tách hai thửa đất được xác định tại bản án d n sự sơ thẩm số 07/2010/DSST ngày 29/4/2010 của Tòa án nh n d n huyện Tánh Linh và bản án d n sự phúc thẩm số 21/2012/DS-PT ngày 17/4/2012 của Tòa án nhân dân t nh Bình Thuận giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 07/2010/DSST ngày 29/4/2010. Theo đó nguyên đơn sử dụng thửa số 73, bị đơn sử dụng thửa số 72. Nguyên đơn cho rằng bị đơn có hành vi lấn chiếm quyền sử dụng thửa đất số 73 của nguyên đơn theo bản án d n sự phúc thẩm số 21/2012/DS-PT ngày 17/4/2012 của Tòa án nhân dân t nh Bình Thuận và yêu cầu bị đơn phải chấm dứt hành vi lấn chiếm trả lại quyền sử dụng đất lấn chiếm. Bị đơn xác định đất đai thuộc quyền sử dụng của cha mẹ đã ủy quyền sử dụng cho bị đơn nên bị đơn hông đồng với yêu cầu hởi iện của nguyên đơn.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị đơn Nguyễn Thị C
hông cung cấp chứng cứ chứng minh thửa đất số 422 thuộc quyền sử dụng của m nh. Trong hi đó tại bản án d n sự phúc thẩm số 21/2012/DS-PT ngày 17/4/2012 đã xác định thửa đất số 422, tờ bản đồ số 17 thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn Tr. Cũng theo bản án này ông Nguyễn Văn Tr được quyền sử dụng thửa đất số 73, diện tích 1.450,5m2 với bề ngang 25,2m, dài 54m còn bà Nguyễn Thị C được quyền sử dụng thửa đất số 72, diện tích 430m2 với bề ngang 8,20m, dài 54m. Đ y là t nh tiết đã được xác định tại bản án nên ông Nguyễn Văn Tr không cần phải chứng minh. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà Nguyễn Thị C đang sử dụng phần đất có bề ngang 12,23m là đã lấn chiếm đất sang đất của ông Tr 4,03m là hoàn toàn có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào ý kiến của nguyên đơn hông buộc bà Cúc trả lại đất lấn chiếm mà ch buộc trả lại giá trị quyền sử dụng đất bằng tiền và công nhận phần lấn chiếm này cho bị đơn là có lợi cho bị đơn.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm bà Cúc yêu cầu đo đạc lại thửa đất và định
giá lại tài sản nhưng hông nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên HĐXX hông có căn cứ thực hiện việc đo đạc và định giá. Tuy nhiên việc đo đạc và định giá của cấp sơ thẩm là phù hợp với giá thị trường đúng qui định nên không có căn cứ để định giá đo đạc lại.
[5] Tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích L
đã cung cấp bản vẽ Mảnh ch nh lý ngày 14/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Tánh Linh có sự điều ch nh thêm tọa độ các điểm cắt của thửa
đất để giao cho bà Cúc được sử dụng. Việc điều ch nh này của Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai Tánh Linh là hợp l nhưng hông thay đổi thời gian
điều ch nh mà vẫn giữ nguyên ngày 14/5/2024 là có thiếu sót. Vấn đề này
không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án mà còn tạo được thuận lợi việc thi
hành án và cấp giấy chứng nhận sau này. Do đó HĐXX sử dụng bản đồ này
kèm theo bản án và bổ sung các điểm tọa độ để thuận lợi cho việc thi hành án,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự.
[6] Như vậy qua hồ sơ vụ án xem xét toàn bộ quá tr nh tố tụng ở cấp
sơ thẩm và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm bị đơn hông cung cấp chứng cứ g
mới để chứng minh cho yêu cầu háng cáo do đó yêu cầu háng cáo của bị
đơn là hông có cơ sở chấp nhận. Do đó bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu
hởi iện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ . HĐXX giữ nguyên bản án
sơ thẩm theo đề nghị của Viện iểm sát nh n d n t nh B nh Thuận là đúng
pháp luật.
[7] Trong quá tr nh giải quyết vụ án theo tr nh tự phúc thẩm theo iến
nghị của nguyên đơn về việc bị đơn cố t nh thay đổi hiện trang đất tranh chấp,
Tòa án nh n d n t nh B nh Thuận đã có công văn số 166/CV-TA-DS ngày
29/4/2025 gửi UBND xã G và bà Nguyễn Thị C đề nghị hông được cố t nh
làm thay đổi hiện trạng hi vụ án chưa được giải quyết bằng bản án quyết
định có hiệu lực pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện cho nguyên đơn
cung cấp các h nh ảnh về việc bà Cúc tự x y dựng hàng rao lấn chiếm đất.
Kiểm sát viên đề nghị HĐXX cần tuyên nghĩa vụ tháo dỡ công tr nh x y dựng
Tr đất lấn chiếm để giao đất cho ông Nguyễn Văn Tr. Xét thấy việc x y dựng
công tr nh (nếu có) của bà C trên thửa đất mà bản án sơ thẩm đã giao cho ông
Nguyễn Văn Tr là trái pháp luật. Bà C phải có nghĩa vụ tự tháo dỡ hoặc bị
cưỡng chế trong quá tr nh thi hành án. Do đó HĐXX cần điều ch nh bổ sung
thêm nghĩa vụ của bà Cúc tháo dỡ công tr nh x y dựng Tr đất của ông Tr
trong bản án mà hông cần phải hoãn phiên tòa để xem xét thẩm định tại chổ,
dẫn đến éo dài thời gian giải quyết vụ án.
[8] Về án phí d n sự phúc thẩm: Do kháng cáo hông được chấp nhận
nên người háng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
V các lẽ Tr,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ hoản 1 Điều 308 hoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng d n sự.
Không chấp nhận háng cáo của bị đơn. Giữ nguyên Bản án d n sự sơ
thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân
huyện Tánh Linh.
2. Căn cứ:
- Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015
- Điều 163 164 hoản 1 Điều 166 của Bộ luật d n sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 12 và hoản 5 Điều 166 Luật đất đai năm 2013.
- Khoản 2 Điều 26 hoản 2 Điều 27 và hoản 1 Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội;
3.Tuyên xử:
3.1. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn – ông Nguyễn Văn
Tr.
3.1.1.Buộc bà Nguyễn Thị C phải chấm dứt hành vi lấn chiếm quyền sử
dụng thửa đất số 73 tờ bản đồ số 171 tại mảnh ch nh l thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Tánh Linh đo vẽ ngày 14/5/2024 (kèm theo bản án ) của vợ chồng ông Nguyễn Văn Tr, bà Trần Thị M.
3.1.2.Buộc bà Nguyễn Thị C phải có nghĩa vụ hoàn lại cho vợ chồng
ông Nguyễn Văn Tr, bà Trần Thị M giá trị quyền sử dụng đất bị lấn chiếm là 241.800.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3.1.3.Bà Nguyễn Thị C được quyền sử dụng phần đất 3-4-7-8-3
thuộc một phần diện tích của thửa đất số 422 tờ bản đồ số 17 giấy chứng nhận số L046917 do UBND huyện Tánh Linh cấp ngày 22/6/1998 cho ông Nguyễn Văn Tr, nay là thửa đất số 73 tờ bản đồ số 171 mảnh ch nh l thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Tánh Linh đo vẽ ngày 14/5/2024 ( èm theo bản án) tọa lạc tại thôn 8 xã G huyện Tánh Linh t nh B nh Thuận. Bà Nguyễn Thị C được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất hiệu 1-2-3-4-7-8-1 theo Mảnh ch nh l thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Tánh Linh đo vẽ ngày 14/5/2024.
3.1.4.Ông Nguyễn Văn Tr, bà Trần Thị M được quyền sử dụng thửa đất
hiệu 4-5-6-7-4 là một phần thửa đất số 73 tờ bản đồ số 171 theo Mảnh ch nh l thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Tánh Linh đo vẽ ngày 14/5/2024 ( èm theo bản án) tọa lạc tại thôn 8 xã G huyện Tánh Linh t nh B nh Thuận. Ông Nguyễn Văn Tr, bà Trần Thị M được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3.1.5.Bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ công tr nh x y
dựng Tr thửa đất hiệu 4-5-6-7-4 theo Mảnh ch nh l thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Tánh Linh đo vẽ ngày 14/5/2024 ( èm theo bản án) tọa lạc tại thôn 8 xã G huyện Tánh Linh t nh B nh Thuận để giao trả đất
cho ông Nguyễn Văn Tr, bà Trần Thị M.
3.1.6.Ông Nguyễn Văn Tr, bà Trần Thị M có quyền và nghĩa vụ giao
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hi thực hiện việc cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
4. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ hoàn lại cho
ông Nguyễn Văn Tr 7.534.000 đồng chi phí tố tụng.
5. Về án phí d n sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị C phải nộp 300.000
đồng án phí d n sự sơ thẩm.
6. Về án phí d n sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000
đồng án phí d n sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0006086 ngày
18/7/2024 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện Tánh Linh. Bị đơn đã nộp đủ
án phí d n sự phúc thẩm.
Bản án d n sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án
(ngày 13/5/2025).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND ,VKSND, Chi Cục THADS Tánh Linh; - Các đương sự; - Cổng TTĐT-TANDTC - Lưu: Hồ sơ; Tòa DS; Tổ HCTP. | TM.H ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PH ÊN T A Nguyễn Lê Phương |