- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Cẩm V được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2024/HNGĐ - ST Ngày: 26 - 6 - 2024 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Nghĩa
2. Bà Nguyễn Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ái Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.
Ngày 26 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 144/2024/TLST – HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST - HN ngày 22 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Lê Thị Cẩm V, sinh năm 1989 (có mặt)
Địa chỉ: ấp LH, xã QL, huyện CG, tỉnh Tiền Giang
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp PL B, xã PQ, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/3/2024 và tại phiên tòa – nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm V trình bày:
Chị V và anh Nguyễn Văn M kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 04/12/2008. Sau khi kết hôn chị V và anh M sống ở Ấp Phú Long B, xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 3/2018 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, nên chị V về sinh sống với gia đình mẹ ruột của chị ở Chợ Gạo, Tiền Giang đến nay. Từ đó chị V và anh M không sống chung với nhau, vợ chồng mạnh người nào người đó sống không ai quan tâm gì đến ai.
Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, chị V yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 05/12/2009, khi ly hôn chị V yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh M cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Tôi không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Tôi không yêu cầu giải quyết
Bị đơn anh Nguyễn Văn M không có văn bản nêu ý kiến về các yêu cầu của chị V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “ly hôn, nuôi con”, do bị đơn hiện đang cư trú tại xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn M được triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh M theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 126, quyển 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 04/12/2008 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh M là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh M đã có nhiều bất hòa, mâu thuẫn trầm trọng, chị V và anh M không sống chung với nhau từ năm 2018, nên không có sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, mạnh ai nấy sống, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh M không có văn bản phản đối gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị V. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần, nhưng anh M vắng mặt không có lý do, nên không có khả năng hàn gắn. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu ly hôn của chị V là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị V được ly hôn với anh M.
Về con chung: chị V và anh M có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 05/12/2009. Xét thấy, cháu Thuý A hiện nay do chị V đang nuôi dưỡng, cháu An cũng có nguyện vọng sống cùng với chị V, anh M không có ý kiến gì về việc yêu cầu được nuôi cháu An khi ly hôn của chị V. Để đảm bảo sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần, đồng thời để đảm bảo quyền lợi của trẻ em sau khi ly hôn, nên Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Thị Thuý An cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị V không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị V không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét
Nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Buộc chị V phải chịu 300.000đ tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, 227 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Cẩm V được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 05/12/2009 cho chị Lê Thị Cẩm V tiếp tục nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị V không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.
4. Về tài sản chung: Chị V không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Cẩm V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000899 ngày 18/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ; chị V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Cẩm V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long - VKSND huyện Long Hồ; - Chị cục THADS huyện Long Hồ; - Các đương sự; - Lưu VP, HS./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Ngọc Tú |