- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ số 94/2024/HNGĐ-ST ngày 26/6/2024 giữa Mai Văn H-Nguyễn Thị H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Mai Văn H và chị Trương Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26- 6 -2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trịnh Thanh Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. ông Lê Văn Ký;
2. ông Nguyễn Văn Biên.
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Hiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Doãn Thị Luyến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số 52/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Mai Văn H, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh T, có mặt.
2. Bị đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 29/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh và chị Trương Thị H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 16/3/2016 tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã H), huyện H, tỉnh T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không phù hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi, chửi nhau, không khí gia đình luôn ngột ngạt, căng thẳng. Do không thể chung sống được nên chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn T, xã H, huyện H sinh sống và sống ly thân với anh H từ tháng 8 năm 2017 cho đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh Hiến đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị Trương Thị H.
Về con chung: Anh H khai, vợ chồng có một con chung, cháu tên là Mai Trương Đức H, sinh ngày 31/12/2016, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay cháu H ở với anh H. Anh H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh, hiện nay anh H đang làm nhân viên tại công ty TNHH thương mại và sản xuất CHENGGONG, thu nhập hàng tháng là 10 triệu đồng.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Toà án đã tống đạt hợp lệ, triệu tập chị Trương Thị H đến Toà án để viết bản khai nhưng chị H không có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập mà không có lý do nên không có lời khai của chị H.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Quá trình nhận đơn khởi kiện, thụ lý, giải quyết và quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã được thực hiện các quyền của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với chị H và được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H là phù hợp với quy định tại Điều 56; Điều 81, 82, 83, khoản 1, Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H. Ghi nhận sự tự nguyện của anh H về việc không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Chị Trương Thị H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhưng chị H không có mặt tại Tòa án mà không có lý do nên Tòa án không tiến hành hoà giải được vụ án. Chị H cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn không có mặt, do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về hôn nhân: Anh Mai Văn H và chị Trương Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Theo anh H, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 8 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau. Kết quả xác minh ngày 18/4/2024 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Hoạt Giang cũng cho thấy, quá trình chung sống giữa anh H và chị H xảy ra mâu thuẫn nên chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ năm 2017 cho đến nay. Trước đó, ngày 08/12/2017 chị H cũng đã nộp đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết ly hôn với anh Mai Văn H, đến ngày 29/01/2018 chị H rút yêu cầu khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã đình chỉ giải quyết vụ án theo quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 04/2018/QĐST – HNGĐ ngày 29/01/2018. Như vậy, trong cuộc sống vợ chồng giữa anh H và chị H luôn xảy ra mâu thuẫn, xung đột dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Một thời gian dài vợ chồng sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết cho anh H được ly hôn chị H là phù hợp.
. Về con chung: Anh H khai, vợ chồng có một con chung, cháu tên là Mai Trương Đức H, sinh ngày 31/12/2016. Anh H cũng xuất trình cho Tòa án bản sao giấy khai sinh của cháu H, trong đó xác định cháu H là con chung của anh H và chị H. Mặt khác, cháu H được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nên đủ cơ sở khẳng định cháu H là con chung của anh H và chị H. Anh H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu H cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu H do anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Để tránh xáo trộn về nơi ở cũng như việc học tập của cháu H, giao cháu H cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của anh H về việc không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81; 82; 83, khoản 1, Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về tài sản: Anh H không yêu cầu Toà án giải quyết, nên miễn xét.
. Về án phí: Anh Mai Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
B v
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 56; Điều 81; 82; 83, khoản 1, Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 6; khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Mai Văn H và chị Trương Thị H.
2. Về con chung: Công nhận cháu Mai Trương Đức H, sinh ngày 31/12/2016 là con chung của anh H và chị H. Giao cháu H cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh H.
3. Về án phí: Anh Mai Văn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006820 ngày 01/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung. Anh H đã nộp đủ tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Hà Trung; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung; - Lưu hồ sơ vụ án | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thanh Hương |