- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ D, về việc:
- Căn cứ chính? Điều 158 Luật Tố Tụng hành chính; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 116 Luật Tố Tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2024/HC-ST Ngày: 17-7-2024 V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng
Ông Đoàn Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Thanh Lê Anh Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 147/2024/TLST-HC, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HC ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Lê Thị Mỹ D, sinh năm 1979; địa chỉ: Khu phố D, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn L, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận
- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Anh T, Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chi nhánh Văn phòng Đ.
Người đại diện theo quy định pháp luật: Ông Trần Anh T, Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Phan Thiết
2. Ủy ban nhân dân thành phố P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Bà Lê Thị Mỹ D có nhận chuyển nhượng thửa đất số 697, tờ bản đồ số 5, diện tích: 110,3m2, mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156625 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 22/01/2019, cập nhật biến động sang tên bà Vũ Thị Kim P vào ngày 06/5/2019 từ bà Vũ Thị Kim P theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứng thực vào ngày 06/5/2024.
Ngày 06/5/2024, bà nộp hồ sơ đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ, số biên nhận 2024-7875/TNHS.
Ngày 14/5/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 689/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/5/2024 hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà với lý do “Thửa đất của bà đăng ký biến động quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 697, tờ bản đồ số 5, diện tích 110.3m2, đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận số CQ 156625. Qua kiểm tra, phần diện tích đất ở tại nông thôn của bà, có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất (tại Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 cho ông Hồ Ngọc M) nhưng không phù hợp quy hoạch (đất trồng cây lâu năm) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh Bình Thuận đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”.
Theo Luật đất đai năm 2013, trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà đối với thửa đất nêu trên từ bà Vũ Thị Kim P là đúng quy định của pháp luật. Bởi vì thửa đất này chưa có thông báo hay quyết định thu hồi đất, đất không bị tranh chấp. Việc Chi nhánh Văn phòng Đ không thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất từ bà Vũ Thị Kim P sang tên bà đã làm hạn chế quyền của bà, là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứng thực vào ngày 06/5/2024.
Do đó, bà Lê Thị Mỹ D khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Hủy Thông báo số 689/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Mỹ D. Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện đúng nhiệm vụ, công vụ được giao trong trường hợp đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất do nhận chuyển nhượng của bà theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứng thực vào ngày 06/5/2024 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156625 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 22/01/2019, cập nhật biến động vào ngày 06/5/2019.
* Người bị kiện Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B: không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P, tại Văn bản số 5493/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 18/6/2024, có ý kiến như sau:
Ngày 06/5/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Mỹ D tại biên bận số 2024-7875/TNHS.
Bà Lê Thị Mỹ D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Vũ Thị Kim P đối với thửa đất số 697, tờ bản đồ số 5, diện tích 110,3m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156625 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 22/01/2019 đứng tên ông Đoàn H, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Vũ Thị Kim P vào ngày 06/5/2019.
Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 697, tờ bản đồ số 5 có nguồn gốc do UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 nhưng không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2020 của UBND tỉnh Bình Thuận.
Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh Bình Thuận có Công văn số 4271/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Công văn số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu: “…2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở Tài nguyên và Môi trường.”
Chi nhánh Văn phòng Đ hiện nay vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 14/5/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 689/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Mỹ D.
Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh Văn phòng Đ thì Chi nhánh Văn phòng Đ sẽ thông báo lại cho bà Lê Thị Mỹ D được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là UBND thành phố P tại Văn bản số 4222/UBND-NC ngày 28/6/2024, có ý kiến như sau:
Thửa đất mà bà Lê Thị Mỹ D đăng ký nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 697, tờ bản đồ số 5, diện tích 110,3m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156625 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 22/01/2019 cho ông Đoàn H và được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật chỉnh lý biến động chuyển quyền sử dụng đất cho bà Vũ Thị Kim P vào ngày 06/5/2019.
Thửa đất số 697, tờ bản đồ số 5 có nguồn gốc do UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 nhưng không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2020 của UBND tỉnh Bình Thuận.
Tại Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 của UBND thành phố P về việc cho phép ông Hồ Ngọc M được chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn với diện tích 1.000m2 thì trong phần cơ sở pháp lý căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 và Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của thành phố P đã được UBND tỉnh Bình Thuận phê duyệt tại Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 03/4/2018.
Đối chiếu tọa độ địa chính tại Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 224-2018 do Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 29/5/2018 được kèm theo Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 của UBND thành phố P với Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND và Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của thành phố P đã được UBND tỉnh Bình Thuận phê duyệt tại Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 03/4/2018 thì vị trí thửa đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất trồng cây lâu năm.
Căn cứ Điều 52 Luật đất đai năm 2023 thì việc UBND thành phố P cho phép ông Hồ Ngọc M chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở nông thôn tại Quyết định 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 là không phù hợp với Quy hoạch, Kế hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt và không đúng quy định của pháp luật.
Đối với nội dung mà bà Lê Thị Mỹ D yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 689/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ được giao không thuộc thẩm quyền của UBND thành phố P vì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị trực thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án và tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án: Chi nhánh Văn phòng Đ viện dẫn vì chưa có ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ chuyển quyền nhưng thửa đất đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định nên không giải quyết hồ sơ xin cập nhật biến động cho bà Lê Thị Mỹ D là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ D. Tuyên xử: Hủy Thông báo số 689/TB- CNVPĐKĐĐPT ngày 14/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ; Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Lê Thị Mỹ D khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 689/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ; Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện đúng nhiệm vụ, công vụ được giao trong trường hợp đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất do nhận chuyển nhượng của bà theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứng thực vào ngày 06/5/2024 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156625 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 22/01/2019, cập nhật biến động vào ngày 06/5/2019. Xét thấy, quyết định hành chính trên có nội dung điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận theo quy định tại Khoản 1 Điều 30, Khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 14/5/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 689/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Mỹ D. Theo Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện số 176/TABT-HCTP của TAND tỉnh Bình Thuận thì bà Lê Thị Mỹ D nộp đơn khởi kiện tại Tòa án vào ngày 15/5/2024 nên còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
Tại phiên tòa, bà Lê Thị Mỹ D và người đại diện theo ủy quyền của bà D, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P, UBND thành phố P, vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; xét thấy các đương sự vắng mặt nhưng đã có lời khai, đã cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ. Căn cứ Điều 158 của Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Xét tính hợp pháp của Thông báo số 689/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ:
Về trình tự, thẩm quyền: Việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thông qua các Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện, thành phố. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đ thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B tiếp nhận là đúng thẩm quyền và trình tự theo quy định tại Điều 95 Luật đất đai; Điều 70, Điều 85 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 9, Điều 11 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Về nội dung: Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 697, tờ bản đồ số 5 có nguồn gốc do UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 nhưng không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2020 của UBND tỉnh Bình Thuận. Hiện nay, Chi nhánh Văn phòng Đ đã có báo cáo xin ý kiến chỉ đạo liên quan đến các trường hợp trên. Sau khi nhận được ý kiến chỉ đạo hướng dẫn giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ chuyển quyền nhưng thửa đất đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định Chi nhánh Văn phòng Đ sẽ thông báo lại cho bà.
Về nội dung khởi kiện:
Xét về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số đất số 697, tờ bản đồ số 5, diện tích 110,3m2, loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thấy:
Thửa đất 697, tờ bản đồ số 5, diện tích 110,3m2 có lịch sử biến động như sau:
- Ngày 17/5/2018, ông Hồ Ngọc M được trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CM 274895 đối với thửa đất số 505, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.000m2 đất trồng cây lâu năm.
- Ngày 13/6/2018, ông Hồ Ngọc M được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn với diện tích 793,1m2 theo Quyết định số 4386/QĐ-UBND và được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận số CN 222741 vào ngày 03/7/2018 đối với thửa đất số 505, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.000m2 gồm 793,1m2 đất ở tại nông thôn và 206,9m2 đất trồng cây lâu năm.
- Ngày 30/10/2018, ông Hồ Ngọc M thực hiện tách thửa đối với thửa đất số 505, tờ bản đồ số 5 thành 03 thửa đất số 571, 572, 573 ; trong đó thửa đất số 571 có diện tích 330,7m2 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CP 568829.
- Ngày 23/11/2018, Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động trên Giấy chứng nhận số CP 568829 chuyển nhượng cho ông Đoàn Duy P1.
Ngày 22/01//2019, ông Đoàn Duy P1 thực hiện tách thửa phần diện tích 110,3m2 chuyển nhượng cho ông Đoàn H và được Sở Tài nguyên và Môi trườngài nguyên và môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CQ 156625.
Ngày 06/5/2019, Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động trên Giấy chứng nhận số CQ 156625 chuyển nhượng cho bà Vũ Thị Kim P.
Ngày 06/5/2024, bà Vũ Thị Kim P và ông Nguyễn Thanh T1 chuyển nhượng cho bà Lê Thị Mỹ D, như vậy bà D là người nhận chuyển nhượng thứ 04 đối với người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu.
Tại Điều 133 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc “Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu”:
“2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu …”.
Đồng thời, tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 quy định “2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:
d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai”.
Phía Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B cũng không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu chứng cứ gì chứng minh đất hiện nay đang có tranh chấp hay bị kê biên theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Việc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P cho rằng: Thửa đất của bà D nhận chuyển nhượng từ bà P có nguồn gốc từ việc UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không phù hợp quy hoạch sử dụng đất và lấy lý do chờ chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan cấp trên để từ chối thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai đối với hồ sơ của ông bà D mà không đưa ra được bất cứ một cơ sở pháp lý nào là không phù hợp quy định của pháp luật. Mặc khác, việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở đối với thửa đất số 697 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Vì vậy, việc chuyển mục đích sử dụng đất không phù hợp quy hoạch sử dụng đất không phải do lỗi của người sử dụng đất.
Điều 188 Luật đất đai 2013 quy định về Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất: “...1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây: a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;b) Đất không có tranh chấp;c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;d) Trong thời hạn sử dụng đất...”
Căn cứ các quy định trên thì thửa đất số 697, tờ bản đồ 05, với diện tích 110,3m2, loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận có đầy đủ điều kiện để chuyển nhượng theo quy định tại Điều 188 của Luật Đất đai 2013, việc Chi nhánh Văn phòng Đ không giải quyết, hoàn trả hồ sơ đăng ký biến động đất đai đối với thửa đất trên là không có căn cứ.
Từ các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy việc Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 689/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/5/2023 là đúng về trình tự thủ tục, thẩm quyền nhưng không đúng về mặt nội dung theo quy định pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lê Thị Mỹ D. Vì vậy, có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ D.
Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án trong hồ sơ vụ án, quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ D được chấp nhận nên theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 3, Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 3 Điều 116, khoản 1 Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố Tụng hành chính;
Căn cứ Điều 95; điểm d khoản 2 Điều 106; Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Điều 133 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ D, về việc:
[1.1] Hủy Thông báo số 689/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/5/2023 của Chi nhánh văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Mỹ D;
[1.2] Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật về việc đăng ký biến động đối với thửa đất số 689, tờ bản đồ 5, với diện tích 110,3m2, loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận cho bà Lê Thị Mỹ D.
[2]. Về án phí: Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Trả lại 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai số 0000296 ngày 24/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận cho bà Lê Thị Mỹ D.
[3]. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa sơ thẩm có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thanh Hòa |