- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Cơ - Phương"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2024/DS-ST. Ngày 02 – 5 – 2024. V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Như Nguyện.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thu Thúy.
Bà Phạm Kim Ngọc.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chí Khánh. Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2024/TLST – DS, ngày 14 tháng 3 năm 2023, về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST – DS, ngày 25 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2024/QĐST – DS ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Dương Chí C.
Địa chỉ: Khu vực 1, phường VII, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P.
Ông Quách Trọng H.
Cùng địa chỉ: Khu vực 3, phường I, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện gửi Toà án và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Dương Chí C trình bày: Từ năm 2018 đến năm 2019, vợ chồng bà Nguyễn Thị P và ông Quách Trọng H có mua vật liệu xây dựng của ông để xây nhà, ông đã giao hàng đầy đủ theo yêu cầu của bà Phương, ông Hùng. Khi mua vật liệu xây dựng bà P, ông H có trả một phần, còn nợ lại một phần. Sau khi mua vật liệu xây dựng cất nhà xong bà P và ông H còn nợ số tiền là 226.251.000 đồng. Ông đã yêu cầu thanh toán nhiều lần nhưng bà P, ông H hứa hẹn hết lần này đến lần khác mà không chịu trả số tiền còn nợ. Nay ông Dương Chí C yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị P và ông Quách Trọng H phải có trách nhiệm trả số tiền mua vật liệu xây dựng còn nợ là 226.251.000 đồng và tính lãi suất theo quy định của pháp luật trên số tiền còn nợ nêu trên từ ngày 26/9/2019 cho đến khi vụ án được xét xử.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Dương Chí C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nêu trên.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn ông Quách Trọng H trình bày: Ông và vợ là bà Nguyễn Thị P có mua vật liệu xây dựng của ông Dương Chí C, hiện nay còn nợ ông Dương Chí C số tiền 226.251.000 đồng là đúng. Nhưng hiện nay vợ chồng ông mất khả năng chi trả, yêu cầu ông Dương Chí C cho trả hàng tháng đến khi hết nợ.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị P đã được Toà án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều vắng mặt, nên chưa trình bày ý kiến và đưa ra yêu cầu của mình.
Tại phiên tòa bị đơn ông Quách Trọng H và bà Nguyễn Thị P vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ông Dương Chí C khởi kiện đối với ông Quách Trọng H và bà Nguyễn Thị P yêu cầu thanh toán tiền mua bán vật liệu xây dựng để xây nhà ở còn nợ theo hợp đồng mua bán nên Tòa xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hợp đồng dân sự, cụ thể là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Quách Trọng H và bà Nguyễn Thị P có nơi cư trú khi xác lập giao dịch tại khu vực 3, phường I, thành phố Vị Thanh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Dương Chí C có hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng để xây nhà ở với vợ chồng ông Quách Trọng H, bà Nguyễn Thị P là đúng sự thật do được ông Quách Trọng H thừa nhận. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Dương Chí C đã hoàn thành việc giao hàng cho ông Quách Trọng H, bà Nguyễn Thị P. Sau khi nhận vật liệu để xây nhà ông Quách Trọng H, bà Nguyễn Thị P có trả một phần, hiện còn nợ lại số tiền 226.251.000 đồng từ ngày 26/9/2019 đến nay không thanh toán tiếp cho ông Dương Chí C là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nay ông Dương Chí C khởi kiện yêu cầu trả nợ, Tòa án cũng đã tạo điều kiện cho các đương sự hòa giải để trình bày và thỏa thuận với nhau về số tiền nợ nhưng bà Nguyễn Thị P đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Quách Trọng H cũng thừa nhận còn nợ số tiền như ông Dương Chí C trình bày. Do đó, Hội đồng xét xử xác định việc khởi kiện của ông Dương Chí C là có căn cứ chấp nhận.
Về lãi suất chậm thanh toán: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Dương Chí C yêu cầu tính lãi suất chậm thanh toán là có cơ sơ theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không có thỏa thuận về lãi suất nên tính mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 với mức lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng) từ ngày 26/9/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm, cách tính lãi như sau:
226.251.000 đồng x 0,83% x 1.656 ngày : 30 = 103.659.141 đồng.
Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi ông Quách Trọng H, bà Nguyễn Thị P phải có trách nhiệm trả cho ông Dương Chí C là: 226.251.000 đồng + 103.659.141 đồng = 329.910.141 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí kèm theo. Buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Đối với bị đơn ông Quách Trọng H và bà Nguyễn Thị P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập đến dự phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Các Điều 430, 440 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí kèm theo.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn
1. Buộc ông Quách Trọng H và bà Nguyễn Thị P phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông Dương Chí C số tiền mua bán còn nợ tổng cộng là 329.910.141 (ba trăm hai mươi chín triệu chín trăm mười nghìn một trăm bốn mươi mốt) đồng. Trong đó: Tiền nợ gốc là 226.251.000 (hai trăm hai mươi sáu triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn) đồng; tiền lãi là 103.659.141 (một trăm linh ba triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn một trăm bốn mươi mốt) đồng.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Quách Trọng H và bà Nguyễn Thị P phải liên đới chịu 16.495.507 (mười sáu triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm linh bảy) đồng. Ông Dương Chí C được nhận lại 5.656.000 (năm triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000786 ngày 29/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận hoặc theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Nguyên đơn là ông Dương Chí C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là ông Quách Trọng H và bà Nguyễn Thị P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND thành phố Vị Thanh; - Chi cục THADS thành phố Vị Thanh; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Như Nguyện |