vanban.org

Bản án 94/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Đức A phạm tội “Cƣớp tài sản”.

Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 168; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về chế độ án phí, lệ phí T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Đức A - Cướp Ts - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Đức A phạm tội “Cƣớp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2023/HSST
Ngày 30/05/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hạnh; Bà Nguyễn Thị Anh Vân.

- Thƣ ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Thiện, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/2023/TLST-HS, ngày 10/05/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2023/QĐ-TA ngày 16/05/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc Đức A; Sinh năm 2000, tại Hà Nam; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Tổ 1, phường V, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Tổ 2, phường C, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Nhân viên kho vận Công ty Bưu Chính Việt Nam; Văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên cha: Nguyễn Ngọc P; Sinh năm: 1970; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên mẹ: Lương Thị O; Sinh năm: 1976; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Vợ là Nguyễn Hồng H (Đã li hôn); Có 01 con sinh ngày 05/5/2021; Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số 44 do Công an quận Bắc Từ Liêm lập ngày 09/12/2022; Bị bắt trong trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 01/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I – Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty TNHH O (Công ty O); Trụ sở: Số 1 Y, phường Y, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Phùng Thị H, sinh năm 1996; Nơi thường trú: Thôn C, xã M, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa;

- Chị Nguyễn Thị Mai L; sinh năm: 2003; Nơi thường trú: Thôn L, xã L, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá; Vắng mặt tại phiên tòa;

- Chị Nguyễn Thị Kiều T; sinh năm: 2003; Nơi thường trú: Số 1, phường L, quận Đống Đa, TP Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bị cáo Nguyễn Ngọc Đức A biết chuỗi cửa hàng “O” thường mở cửa cả ngày, đêm và chỉ có một nhân viên bán hàng quản lí, trông coi. Do thu nhập thấp, tâm lí bất ổn sau li hôn và phải nuôi con nhỏ nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là tiền bán hàng để ở các khay của quầy thanh toán tại các cửa hàng“O”.

Khoảng hơn 02 giờ sáng ngày 25/11/2022, bị cáo A mặc quần dài màu đen, áo phông màu xám, áo khoác màu đen trên tay có sọc kẻ màu trắng đỏ, đi dép màu đen có logo “Guddi”, đầu đội mũ bảo hiểm dạng lưỡi chai màu trắng, đeo kính gọng đen, khẩu trang màu trắng, đi xe máy nhãn hiệu Vision mang BKS: 29D2 – 160.69 đến cửa hàng O số 2 T, thuộc phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm. Vào trong cửa hàng, thấy có một mình chị Nguyễn Thị Mai L - nhân viên cửa hàng, bị cáo chọn một món đồ và ra quầy thu ngân thanh toán. Lợi dụng lúc chị L đang tính tiền, bị cáo áp sát người chị L nói “đưa hết tiền đây” và dùng hai tay lôi khay đựng tiền tại quầy thu ngân ra, chị L dùng tay kéo lại thì bị cáo dùng chiếc bút bi để trong áo chọc vào mạng sườn chị L, khiến chị sợ và buông tay ra. Bị cáo giật khay đựng tiền đi ra cửa chính thì bị chị L chạy theo dùng tay kéo lại, bị cáo gạt tay chị L ra đồng thời trợn mắt quát “Bỏ ra”. Do sợ bị cáo manh động và chỉ có một mình nên chị L không dám đuổi theo. Bị cáo cầm theo khay đựng tiền, lên xe máy bỏ chạy về hướng đường Hoàng Quốc Việt. Trên đường bỏ chạy, bị cáo đã vứt bút bi, mở khay đựng tiền phía trên (không kiểm tra ngăn phía dưới) lấy khoảng 1.800.000 đồng, vứt lại bên đường khay đựng tiền tại khu vực đối diện tòa nhà Samsung thuộc đường Xuân Tảo. Khi nhận ca trực anh Trần Trung K, cửa hàng trưởng bàn giao cho chị Nguyễn Thị Mai L 1.000.000 đồng tiền mặt ca trước chuyển lại và tiền để dưới khay đựng tiền và tiền chị L bán hàng được số tiền, phù hợp với báo cáo chốt ca, đối chiếu công nợ và nhật kí chi tiết bán hàng trên máy bán hàng nên xác định được tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 4.259.000 đồng.

Chị Nguyễn Thị Mai L đã trình báo sự việc trên tới cơ quan Công an. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm đã điều tra, phát hiện và triệu tập bị cáo A đến Cơ quan Cảnh sát điều tra và làm rõ sự việc nêu trên.

Vật chứng thu giữ của bị cáo A: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, đen mang BKS: 29D2 – 160.69; 01 áo khoác màu đen, trên tay áo có sọc kẻ màu trắng đỏ; 01 quần dài màu đen; 01 áo phông màu xám; 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai màu trắng có sọc kẻ màu đen trắng và 01 đôi dép màu đen, logo “GUDDI”.

Ngoài ra bị cáo A còn thực hiện hai vụ cướp tài sản khác trên địa bàn thành phố Hà Nội. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ ngày 19/9/2022, bị cáo A mượn xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng của người bạn (Bị cáo không nhớ biển kiểm soát, không rõ nhân thân), mặc áo phông cộc tay màu đen, mặc quần lửng màu trắng, đội mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai màu trắng, đeo kính gọng đen, đeo khẩu trang màu trắng, đến cửa hàng “O” tại địa chỉ số 3T, phường Hàng Bột, quận Đống Đa thấy chị Phùng Thị H đang bán hàng một mình. Bị cáo vào cửa hàng lấy một vỉ sữa, mang ra quầy thanh toán. Lợi dụng lúc chị H đang tính tiền, bị cáo đi vào trong quầy thu ngân, tay phải dùng chìa khoá của xe máy dí sát vào sườn bên trái chị H và dọa “Tao chỉ cần tiền nếu mày hô lên thì chết với tao”. Chị H nghĩ là dao nên sợ hãi đứng im, bị cáo liền mở ngăn kéo lấy khay đựng tiền để trên mặt bàn, lấy tiền ở 2 ngăn nhỏ với số tiền 1.500.000 đồng, rồi bước ra khỏi cửa hàng lên xe máy bỏ chạy. Chiếc xe máy Honda Wave, bị cáo đã trả lại cho bạn. Sau sự việc, chị H đã báo cáo cửa hàng trưởng và lấy 1.500.000 đồng của mình để giao cho cửa hàng đối trừ công nợ. Chị H yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.500.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 16/11/2022, bị cáo mượn xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ, đen không rõ biển số của bạn (Bị cáo không nhớ biển kiểm soát và nhân thân người bạn). Bị cáo đeo khẩu trang màu đen, đeo kính gọng màu đen, đội mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai màu trắng, quần vải màu đen, đi dép màu đen đến cửa hàng “O” tại địa chỉ số 3Đ, phường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình thấy chị Nguyễn Thị Kiều T đang bán hàng một mình. Bị cáo dựng xe máy ở trước cửa hàng rồi đi vào trong lấy một chai nước Aqua, đi ra quầy thanh toán. Lợi dụng lúc chị T đang tính tiền, bị cáo đi vào trong quầy thu ngân, cầm chìa khoá xe máy bằng tay phải dí vào mạng sườn bên trái của chị Trang nói “Cướp đây, tao chỉ cần tiền”. chị T sợ hãi đứng im, bị cáo liền dùng hai tay rút khay đựng tiền đi ra cửa thì bị chị T đuổi theo dùng tay kéo cổ áo A và trị hô “cướp, cướp có ai không…”. Bị cáo gạt tay chị T ra, để khay đựng tiền lên xe máy và phóng xe bỏ chạy. Khi đến đầu ngõ Thanh Bình, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, bị cáo dừng xe mở khay ra, thấy bên trong có khoảng hơn 8.000.000 đồng. Bị cáo lấy tiền, vứt khay đựng tiền cạnh mương nước gần nhà. Sau đó, bị cáo mang trả xe máy cho bạn. Số tiền bị cáo chiếm đoạt, căn cứ vào biên bản bàn giao và bảng kê chi thiết thu chi của cửa hàng xác định số tiền có khay dựng tiền bị bị cáo A chiếm đoạt là 9.386.000 đồng.

Số tiền đã chiếm đoạt, bị cáo A đã tiêu dùng hết.

Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision mang biển kiểm soát 29D2 – 160.69, màu đen đỏ, số máy, số khung bị tẩy xoá, bị cáo khai cuối năm 2019, mua của một thanh niên trên mạng xã hội với giá 20.000.000 đồng nhưng khi giao xe, do chưa có giấy đăng kí xe và hợp đồng mua bán nên mới trả trước 5 triệu đồng. Do người bán không đưa giấy tờ và không liên lạc được nên bị cáo tiếp tục sử dụng xe máy đến nay. Tại Kết luận giám định số 244 ngày 06/02/2023, Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an đã kết luận: “Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision đeo biển kiểm soát 29D2 -160.69, có số khung nguyên thuỷ là: RLHJF5811GY420164 và số máy nguyên thuỷ là: JF66E0755495”. Tra cứu theo số khung, số máy nguyên thuỷ xác định được xe đăng ký biển số 29C1- 674.81, có chủ phương tiện là chị Lê Thị Huyền T, sinh năm1968; Nơi cư trú: số 40 H, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Ngày 04/7/2019, chị T bị trộm cắp chiếc xe trên ở phường Lý Thái Tổ nhưng không trình báo. Do vụ việc trộm cắp tài sản xảy ra tại địa bàn quận Hoàn Kiếm. Ngày 30/3/2023, Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision có số khung: RLHJF5811GY420164, số máy: JF66E0755495 để chuyển đến cơ quan CSĐT Công an quận Hoàn Kiếm để giải quyết theo thẩm quyền.

Chiếc biển kiểm soát 29D2 – 160.69 được đăng ký cho xe mô tô nhãn hiệu Honda có số khung: RLHJF5814GY516693, số máy JF66E0789334 chủ phương tiện là bà Nguyễn Bích T, sinh năm: 1962; Địa chỉ: Số 61 Q, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng. Bà Thuận vẫn sử dụng xe mô tô và biển số nêu trên.

Các khay đựng tiền của cửa hàng “O” số 3T, cửa hàng “O” số 3Đ và chiếc bút bi bị cáo dùng để đe dọa chị L cướp tài sản, bị cáo A khai vứt tại trên đường bỏ trốn Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành dẫn giải bị cáo chỉ địa điểm vứt các khay đựng tiền và thực hiện việc rà soát không tìm thấy vật chứng.

Về dân sự: Công ty O yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 13.645.000 đồng, chị Phùng Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.500.000 đồng mà chị đã dùng tiền của mình nộp cho Công ty đối trừ công nợ. Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí bồi thường theo yêu cầu của Công ty và chị H.

Tại Bản cáo trạng số 82/CT-VKS, ngày 26/04/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Đức A về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đức A mức án từ 54 – 60 tháng tù; Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty O số tiền 13.645.000 đồng, chị Phùng Thị Hà số tiền 1.500.000 đồng; Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: Biển kiểm soát: 29D2 – 160.69; 01 áo khoác màu đen, trên tay áo có sọc kẻ màu trắng đỏ; 01 quần dài màu đen; 01 áo phông màu xám; 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai màu trắng có sọc kẻ màu đen trắng và 01 đôi dép màu đen, logo “GUDDI”.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục, quyền nghĩa vụ của mình. Quá trình giải quyết vụ án, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo, kiến nghị gì đối với hoạt động, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện để giải quyết vụ án đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Biết hệ thống cửa hàng “O” chỉ có một nhân viên bán hàng qua đêm nên bị cáo Nguyễn Ngọc Đức A lợi dụng ban đêm, vào các cửa hàng không có khách tiếp cận, đe dọa sử dụng ngay tức khắc vũ lực, khống chế nhân viên bán hàng, chiếm đoạt tiền trong các khay đựng tiền tại quầy thu ngân. Bị cáo đã thực hiện 03 vụ cướp tài sản với thủ đoạn nêu trên tại 03 cửa hàng “O” tại Hà Nội, chiếm đoạt tổng số tiền là 15.145.000 đồng. Cụ thể: Khoảng hơn 02 giờ, ngày 19/9/2022, tại cửa hàng O; Địa chỉ: 3T, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, bị cáo dùng chìa khoá xe máy dí vào mạn sườn chị Phùng Thị H và đe dọa chị H để cướp số tiền 1.500.000 đồng. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 16/11/2022, tại cửa hàng O; Địa chỉ: 3Đ, phường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình, bị cáo A chìa khoá xe máy dí vào mạn sườn chị Nguyễn Thị Kiều T và đe dọa chị T để cướp số tiền 9.386.000 đồng. Khoảng 02 giờ ngày 25/11/2022, tại cửa hàng O; địa chỉ: số 3T, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, bị cáo A dùng bút bi chọc vào mạn sườn bên trái chị Nguyễn Thị Mai Lvà đe dọa chị L để cướp số tiền 4.259.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”. Tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự an ninh xã hội. Bị cáo đã dùng lời nói và hành động đe dọa sử dụng ngay tức khắc vũ lực khiến người bị đe dọa sợ hãi, hiểu rằng nếu không cho bị cáo lấy tài sản thì sẽ bị bị cáo sử dụng vũ lực với họ ngay. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.

Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo

4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu bị đưa ra xét xử, đang nuôi con nhỏ sau li hôn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện 03 vụ cướp tài sản tại 03 cửa hàng “O” khác nhau, tại các thời điểm khác nhau nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội từ hai lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về dân sự: Bị cáo đã chiếm đoạt của Công ty O tổng số tiền là 15.145.000 đồng. Bị cáo đã tiêu dùng hết số tiền trên và chưa bồi thường, khắc phục hậu quả, trong đó số tiền 1.500.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt của cửa hàng O Tôn Đức Thắng, ngày 19/9/2022, chị Phùng Thị H đã lấy tiền của mình để nộp lại cho cửa hàng đối trừ công nợ và chị H yêu cầu bị cáo hoàn trả cho chị Hà và Công ty O yêu cầu bị cáo bồi thường cho Công ty số tiền 13.645.000 đồng còn lại.

Các yêu cầu bồi thường dân sự đối với bị cáo của chị H và Công ty O là có căn cứ và bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của họ nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho họ số tiền đã chiếm đoạt nêu trên.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 biển kiểm soát xe mô tô số: 29D2 – 160.69, 01 áo khoác màu đen, trên tay áo có sọc kẻ màu trắng đỏ, 01 quần dài màu đen, 01 áo phông màu xám, 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai màu trắng có sọc kẻ màu đen trắng và 01 đôi dép màu đen, logo “GUDDI”. Biển kiểm soát 29D2 – 160.69 đã được đăng ký cho xe mô tô khác và hiện vẫn được sử dụng do đó chiếc biển kiểm soát thu giữ của bị cáo không có giá trị sử dụng, các trang phục cũng như mũ bảo hiểm, dép thu giữ của bị cáo đã cũ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và phải bồi thường dân sự cho bị hại nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Đức A phạm tội “Cƣớp tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 168; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về chế độ án phí, lệ phí Tòa án.

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đức A 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2022.

3. Về các vấn đề khác

3.1. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát: 29D2 – 160.69, 01 áo khoác màu đen 01 quần dài màu đen, 01 áo phông màu xám, 01 mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai màu trắng có sọc kẻ màu đen trắng và 01 đôi dép màu đen. Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 158/23 ngày 25/05/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.

3.2. Về dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Đức A phải bồi thường cho Công ty TNHH O Việt Nam số tiền 13.645.000 đồng và bồi thường cho chị Phùng Thị H số tiền 1.500.000 đồng.

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của chị Phùng Thị Hà và Công ty TNHH O Việt Nam, nếu bị cáo A chậm trả khoản tiền nêu trên thì phải trả khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả.

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

3.2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 757.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3.2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ