vanban.org

Bản án 94/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 11/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Bá G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Bá G 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28/11/2022. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Bá G - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Bá G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 94/2023/HS-ST
Ngày 11-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ngọc Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Ông Hồ Tấn Lộc.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 68/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Bá G, sinh năm 1992 tại tỉnh Tây Ninh; thường trú: Ấp T Th, xã H Th, thị xã Tr B, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở: Số 28/16/6 đường L Th V, phường T Th H, quận T Ph, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính Nam; con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1968 và bà Đỗ Thị C, sinh năm 1967; có 01 chị ruột, sinh năm 1989; có vợ tên là Nguyễn Tuyết D, sinh năm 1986, có 01 con ruột, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/11/2022 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Minh H, sinh năm 1980; địa chỉ: Số 46/259B đường Qu Tr, Phường M, quận G V, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Anh Phạm Minh H, sinh năm 1980; thường trú tại số 46/259B đường Qu Tr, Phường M, quận G V, Thành phố Hồ Chí Minh và Trần Bá G làm thuê chung tại gara “Ph Auto” tại địa chỉ số B đường K, Trung tâm hành chính thành phố D A, khu phố Nh Đ 2, phường D A, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Công việc của anh H là vá lốp xe ô tô, còn G phụ trách việc mua bán xe cho một số anh em ở gara.

Trần Bá G có đầu tư Wefinex (sàn giao dịch tiền điện tử) và bị thua lỗ khoảng 1,6 tỷ đồng. Vì hết tiền nhưng G muốn tiếp tục đầu tư để gỡ lại số tiền thua lỗ nên G giả vờ rủ anh Phạm Minh H góp vốn mua xe cũ bán lại kiếm lời nhằm chiếm đoạt tiền của anh H, anh H đồng ý. Anh H đưa cho G tổng số tiền 350.000.000 đồng chia làm 03 lần:

- Ngày 06/4/2022, tại gara “Ph Auto”, anh Phạm Minh H sử dụng số tài khoản ngân hàng Techcombank 10220626613010 chuyển khoản cho Trần Bá G số tiền 150.000.000 đồng đến tài khoản của Trần Bá G để hùn tiền mua 01 (một) xe ô tô Fortuner.

- Ngày 07/4/2022, tại gara “Ph Auto”, anh Phạm Minh H sử dụng số tài khoản ngân hàng Techcombank 10220626613010 chuyển khoản cho Trần Bá G số tiền 100.000.000 đồng đến tài khoản của Trần Bá G để hùn tiền mua xe ô tô Vios.

- Ngày 11/4/2022, tại gara “Ph Auto”, anh Phạm Minh H sử dụng số tài khoản ngân hàng Techcombank 10220626613010 chuyển khoản cho Trần Bá G số tiền 70.000.000 đồng đến tài khoản của Trần Bá G để hùn tiền mua xe ô tô Innova.

Số tiền anh H chuyển cho G, G đầu tư vào Wefinex và bị thua lỗ mất hết số tiền trên. Do không có khả năng trả lại số tiền 350.000.000 đồng của anh H nên ngày 13/4/2022, Trần Bá G đã tự nghỉ việc tại gara “Ph Auto” và ngắt liên lạc với an H. H nghi ngờ G chiếm đoạt số tiền trên của mình nên nhiều lần gọi điện cho G nhưng không liên lạc được. Ngày 10/5/2022, G sử dụng số điện thoại 0774926332 liên lạc với anh H và thừa nhận đã lừa dối H để chiếm đoạt số tiền trên và hứa sẽ trả lại số tiền cho anh H thì H đồng ý nhưng yêu cầu G gặp mặt anh H để giải quyết thì G không chịu gặp mặt. Anh H đã đến Công an phường D A, thành phố D A, tỉnh Bình Dương trình báo. Đến ngày 28/11/2022, Trần Bá G bị bắt tạm tam cho đến nay.

Tại Cáo trạng số: 97/CT-VKS-DA ngày 23 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Trần Bá G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Trần Bá G từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại được 60.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại Phạm Minh H tiếp tục yêu cầu bị cáo Trần Bá G bồi thường với tổng số tiền 340.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với bị hại.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và về trách nhiệm dân sự đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo; bị hại và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Từ ngày 06/4/2022 đến ngày 11/4/2022, tại gara “Ph Auto” địa chỉ số B đường K, Trung tâm hành chính thành phố D A, khu phố Nh Đ 2, phường D A, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Trần Bá G dùng thủ đoạn gian dối giả vờ rủ anh Phạm Minh H góp vốn mua xe cũ bán lại kiếm lời để chiếm đoạt tổng số tiền 350.000.000 đồng.

Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại với tổng số tiền 350.000.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản’’ theo quy định điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 97/CT – VKS ngày 23 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Trần Bá G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn kiếm tiền nhanh chóng không phải lao động để phục vụ nhu cầu bản thân mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, phạm tội 02 lần trở lên, đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại được 60.000.00 đồng. Tại phiên tòa, bị hại Phạm Minh H tiếp tục yêu cầu bị cáo Trần Bá G bồi thường với tổng số tiền 340.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với bị hại.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tinh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Bá G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Trần Bá G 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28/11/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

- Buộc bị cáo Trần Bá G bồi thường cho bị hại Phạm Minh H số tiền 340.000.000 (ba trăm bốn mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Bá G phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo và bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ