vanban.org

Bản án 94/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 11/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 03 vam phá khóa làm bằng kim loại dài khoảng 09cm, một đầu vát nhọn; 01 cờ lê làm bằng kim loại dài khoảng 13cm, có in dòng chữ chrome vanadium và 01 mũ lưỡi trai màu đen nhãn hiệu Levis America’s Original Teans đã thu giữ của bị cáo. (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09 thá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án trộm cắp Trần Quang T 11.7.2023 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN L
T1 PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2023/HS-ST
Ngày 21-7-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN L, T1 PHỐ HẢI PHÒNG

-T1 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

Ông Nguyễn Văn Hạnh

- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận L, T1 phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận L, T1 phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận L, T1 phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 444/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Trịnh Quang T, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 246 Đ, phường Đ, quận N, T1 phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Quang T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thanh T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Bản án số 22/HSST ngày 04/3/2014, Tòa án nhân dân quận N, T1 phố Hải Phòng xử phạt 03 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản; bản án số 114/HSST ngày 28/8/2019, Tòa án nhân dân quận L, T1 phố Hải Phòng xử phạt 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy ( đều đã được xóa án tích); bị bắt tạm giam ngày 16/3/2023, có mặt.

Bị hại: Anh Lê Xuân T, sinh năm 1986, nơi cư trú: Số 12/55 H, phường K, quận L, Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 14/3/2023, Công an phường K, quận L, T1 phố Hải Phòng nhận được đơn trình báo của anh Lê Xuân T về việc bị mất trộm chiếc xe máy biển kiểm soát 15L1-061.09, số khung: 5122FY-003279, số máy JF51F0208237 vào lúc 07 giờ 15 phút ngày 30/01/2023 tại nhà. Cùng với đơn trình báo, anh T3 đã đưa đối tượng nghi vấn thực hiện hành vi trộm cắp xe của anh là Trịnh Quang T và giao nộp cho Công an phường K 01 xe môtô SH Mode, màu trắng, số khung 5122FY-003279, số máy JF51F0208237, trong cốp xe có biển kiểm soát 15L1-06109 và 01 usb ghi lại toàn bộ nội dung vụ việc. Công an phường K đã tạm giữ của T2 03 vam phá khóa bằng kim loại dài khoảng 09cm, một đầu vát nhọn; 01 cờ lê dài khoảng 13cm làm bằng kim loại, trên cờ lê có in dòng chữ chrome vanadium và 01 mũ lưỡi trai màu đen, nhãn hiệu Levis America’s Original Teans đã qua sử dụng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận L kết luận: Giá trị còn lại của chiếc xe máy không đeo biển, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, màu trắng nâu, số khung: 5122FY-003279, số máy: JF51F0208237 là 33.000.000đồng.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Trịnh Quang T khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 30/01/2023, T2 đi bộ trên đường H, phường K, quận L, T1 phố Hải Phòng để xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước cửa nhà số 12/55 H thì thấy cổng nhà mở hé, bên trong có xe máy biển kiểm soát 15L1-06109 dựng ở sân và cắm sẵn chìa khóa ở ổ khóa. T2 quan sát thấy không có ai trông coi nên đã mở cổng đi vào dắt xe ra ngoài rồi điều khiển xe đến quán game bắn cá của anh Phạm Quang T1, sinh năm 1971 tại địa chỉ số 02 đường A 1, xã A, huyện A, T1 phố Hải Phòng để chơi game. Tại đây, T2 đã dùng tiền để mua điểm chơi game nhưng thắng hay thua thì không được quy đổi sang tiền hay hiện vật; đến chiều cùng ngày, T2 nợ anh T1 số tiền 10.000.000đồng. Do không có tiền trả nên T2 đã để lại chiếc xe máy vừa trộm cắp được cho anh T1 để làm tin nhưng T2 không nói cho anh T1 biết nguồn gốc chiếc xe máy này là do phạm tội mà có. Đến khoảng 08 giờ ngày 14/3/2023, T2 đã chuẩn bị 03 vam phá khóa và 01 chiếc cờ lê để đi trộm cắp xe máy, khi đang đi lang thang trên đường mương An Kim Hải thì bị anh T3 phát hiện và đưa đến Công an phường Kênh Dương trình báo.

Bị hại anh Lê Xuân T khai nhận: Vào lúc 07giờ 30 phút ngày 30/01/2023 thì anh phát hiện chiếc xe máy của mình để ở sân trước nhà bị mất, khi anh xem lại camera an ninh thì phát hiện thấy vào lúc 07giờ15phút ngày 30/01/2023, T2 đã trộm cắp chiếc xe của anh. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 14/3/2023, anh T3 đang đi bộ trên đường mương An K thì phát hiện được T2 nên đã đưa T2 đến Công an phường Kênh Dương trình báo. T2 đã đến quán game của anh T1 lấy lại xe và giao nộp cho Công an phường Kênh Dương. Hiện anh đã nhận lại chiếc xe bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với việc Phạm Quang T1 nhận chiếc xe máy biển kiểm soát 15L1-061.09 do T2 đưa nhưng T2 không nói cho T1 biết chiếc xe do phạm tội mà có và việc T1 cho T2 chơi game dưới hình thức bắn cá nhưng không được thua bằng tiền hay hiện vật nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với T1 về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và không xử lý đối với T2 và T1 về tội Đánh bạc.

Tại Cáo Trạng số 96/CT-VKSLC ngày 08 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận L đã truy tố bị cáo Trịnh Quang T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trịnh Quang T mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 03 vam phá khóa; 01 cờ lê và 01 mũ lưỡi trai màu đen đã thu giữ của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

- Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, nội dung bản cáo trạng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 30/01/2023, tại khu vực trước cửa nhà số 12/55 Hoàng Ngọc Phách, phường Kênh Dương, quận L, T1 phố Hải Phòng, bị cáo Trịnh Quang T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại SH Mode biển kiểm soát 15L1-061.09 trị giá là 33.000.000đ (ba mươi ba triệu đồng) của anh Lê Xuân T. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Trịnh Quang T phạm tội Trộm cắp tài sản vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và quyết tâm phạm tội cao, bị cáo đã lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, dùng thủ đoạn lén lút để chiếm đoạt tài sản. Nhân thân bị cáo có 02 tiền án đã được xóa án tích nhưng qua đó cũng cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là kém, bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo T1 khẩn hành vi phạm tội của mình; bản thân bị cáo có thời gian tham gia quân đội tại Tiểu đoàn 471, Lữ đoàn 147 Bộ tư lệnh Hải Quân từ năm 2007 đến năm 2009 nên khi lượng hình cũng cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

-Về xử lý vật chứng:

Đối với 03 vam phá khóa và 01 cờ lê làm bằng kim loại thu giữ của bị cáo, bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nên căn cứ vào a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc mũ lưỡi trai màu đen đã thu giữ của bị cáo, xét là vật không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trịnh Quang T 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 16 tháng 3 năm 2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 03 vam phá khóa làm bằng kim loại dài khoảng 09cm, một đầu vát nhọn; 01 cờ lê làm bằng kim loại dài khoảng 13cm, có in dòng chữ chrome vanadium và 01 mũ lưỡi trai màu đen nhãn hiệu Levis America’s Original Teans đã thu giữ của bị cáo.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09 tháng 06 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận L).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ