- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn Na - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Phan Văn N 3 (Ba) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản số 94/2023/HS-ST Ngày 07-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Trúc Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Sơn
Bà Nguyễn Thị Di
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Mai Thiên Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 88/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/QĐXXHS-ST ngày 23-15-2023 đối với bị cáo:
Phan Văn N, Giới tính: N1, sinh năm 1968 tại: Tỉnh Cà Mau. HKTT: G44/9 ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Phan Văn T (đã chết) và bà: Mai Thị Ú, sinh năm 1938. Bị cáo là con thứ 03 trong gia đình có 07 anh chị em. Hiện đang sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thị P. Con: có 06 người con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định số 12/QĐ-XPVPHC ngày 07/01/2022 của Công an huyện L xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc dưới hình thức đá gà ăn tiền”. Nộp phạt vào ngày 12-01-2022.
Ngày 13-02-2023, bị bắt tạm giam theo Lệnh bắt để tạm giam số 12/LB-ĐTTH ngày 17-01-2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L, bị cáo có mặt tại Tòa.
- Bị hại: Ông Phan Minh T1, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có đơn yêu cầu vắng mặt.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 04/2021, anh Phan Minh T1 xây dựng nhà trên thửa đất số 125, tờ bản đồ số 04 thuộc xã P, huyện L, do là đất nông nghiệp nên bị UBND xã P yêu cầu đình chỉ. Ngày 05-4-2021, anh T1 đi đến quán nước của bà Hoàng Thị T2 để uống nước được một lúc thì có anh Trần Quốc C đến uống nước, qua cuộc nói chuyện anh C biết được nhà anh T1 đang xây dựng nhưng bị đình chỉ, anh C gọi điện thoại hỏi Phan Văn N có giúp được anh T1 không. Sau khi nghe anh C kể lại sự việc, N điều khiển xe mô tô đi đến quán nước của bà T2 để gặp anh T1. Mặc dù N không có khả năng giúp anh T1 nhưng do đang cần tiền sử dụng cho mục đích cá nhân nên sau khi xem các giấy tờ đất do anh T1 đưa Phan Văn N cho rằng có quen biết với người có thẩm quyền của UBND xã P để giúp anh T1 được tiếp tục xây dựng căn nhà và yêu cầu T1 đưa trước số tiền 50.000.000 đồng để lo công việc. Anh T1 tin tưởng đồng ý đưa cho N số tiền 50.000.000 đồng. Đến ngày 07-4-2021, Phan Văn N tiếp tục gặp và nói với anh T1 do công việc cần phải gặp gỡ nhiều cán bộ để lo việc nên yêu cầu anh T1 đưa tiếp số tiền 100.000.000 đồng. Đến chiều ngày 07-4-2021, tại quán C2 thuộc xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, anh T1 đưa cho N số tiền 100.000.000 đồng. Sau khi lấy được tổng số tiền 150.000.000 đồng từ anh T1, N đem đi chuộc lại chiếc xe mô tô mà N đã cầm trước đó với số tiền 55.000.000 đồng, số còn lại N trả nợ và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên. Đến ngày 14-4-2021, anh T1 tiếp tục bị UBND xã P, huyện L lập biên bản vi phạm và ra Quyết định cưỡng chế buộc tháo dỡ vì xây dựng trái phép và đến tháng 9 năm 2022, UBND xã P, huyện L tiến hành cưỡng chế tháo dỡ nhà của anh T1. Sau đó, anh T1 nhiều lần điện thoại yêu cầu Phan Văn N trả lại tiền nhưng Phan Văn N không trả, anh T1 đến nhà tìm N nhưng N cố tình lẫn tránh. Do đó, anh T1 đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện L trình báo sự việc. Qua làm việc, Phan Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Vào ngày 08-12-2022, Phan Văn N đã bồi thường số tiền 150.000.000 đồng cho anh Phan Minh T1. Sau khi nhận đủ số tiền anh T1 không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 90/CT-VKSLĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, truy tố Phan Văn N, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ quyền công tố phát biểu luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Phan Văn N phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt: Bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Tại phiên tòa: Bị cáo xác nhận hành vi phạm tội theo đúng như Bản cáo trạng mà viện kiểm sát truy tố. Bị cáo xin Hội đồng xét xử tạo cho bị cáo cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi thực hiện tội phạm: Bản thân Phan Văn N biết không có khả năng giúp anh Phan Minh T1 để hợp thức hóa việc xây dựng nhà trái phép nhưng do cần tiền tiêu xài nên vào ngày 05-4-2021 tại xã P, huyện L và ngày 07-4-2021 tại xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phan Văn N đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối để anh T1 tin là N quen biết với người có thẩm quyền giúp anh T1 tiếp tục được xây dựng nhà trên đất nông nghiệp mà anh T1 đang bị đình chỉ xây dựng để chiếm đoạt của anh T1 với tổng số tiền 150.000.000 đồng dẫn đến không có khả năng trả lại và cố tình lẫn tránh anh T1. Hành vi thực hiện của N đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người thành niên nhận thức rõ hành vi chiếm đọat tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam tự lợi, lười lao động mà muốn có tiền trả nợ đã cố tình thực hiện tội phạm, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt lớn cần xử mức án thật nghiêm khắc đủ thời gian giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho gia đình và cũng phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên xét thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với Trần Văn C1 qua làm việc xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của N nên không có cơ sở xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Minh T1 đã nhận đủ tiền không có yêu cầu gì thêm, không đặt ra xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Phan Văn N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Phan Văn N 3 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13-02-2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt quyền kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo thủ tục chung.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền; - Công an huyện Long Điền; -Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BRVT; - Tòa án nhân dân tỉnh BRVT; - Sở tư pháp tỉnh BRVT; - Phòng PC 10 và PV06 công an Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. - Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền - Bị cáo; - Lưu văn phòng; hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Thanh Trúc |