vanban.org

Bản án 94/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 07/12/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

không chấp nhận kháng cáo của bị cáo A, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số

69/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Bạc Liêu. Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Duy Tân - Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí…"
  • Tòa quyết gì? không chấp nhận kháng cáo của bị cáo A, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 94/2023/HS-PT

Ngày: 07/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tấn Bà Châu Minh Nguyệt - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phái, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh - Kiểm sát viên. Ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 119/2023/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo A, do có kháng cáo của bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 69/2023/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Bạc Liêu. Bị cáo có kháng cáo: A, sinh ngày 24/11/1987 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Số 83, đường 30/4, Khóm 1, Phường P, thị xã K, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông B, sinh năm 1960 và bà C, sinh năm 1964; vợ D, sinh năm 1991; con có 02 người, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng súng để phòng thân nên cuối tháng 3/2023, bị cáo A lên mạng mua một cây súng, có lắp sẵn 05 viên đạn với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua súng về bị cáo A lắp ráp lại thành khẩu súng hoàn chỉnh bên trong có 05 viên đạn, khi lắp ráp xong khẩu súng, bị cáo A thấy nòng súng bị nứt, gãy nên có liên hệ lại người bán để đổi, trả nhưng bị chặn, xóa và mất liên lạc với bên bán súng kể từ đó. Sau đó, bị cáo A gói khẩu súng vào bọc

nylon và giấu vào chậu kiểng bên hông quán nhậu Đ do bị cáo A thuê của ông E. Đến khoảng hơn 03 giờ sáng ngày 07/4/2023, bị cáo A lấy khẩu súng từ chậu kiểng, cất vào người định mang đi tìm chỗ khác để tiếp tục cất giấu, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 52P7-2622 đến Bệnh viện đa khoa thị xã K thăm vợ bệnh nhưng không vào được nên chạy xe lòng vòng ngoài đường. Khi đến đoạn Quốc lộ IA thuộc Khóm 2, Phường 1, thị xã K, tỉnh Bạc Liêu xe hết xăng nên bị cáo A dừng xe định nhờ xe khác đẩy đi đổ xăng, thì bị lực lượng tuần tra Công an thị xã K kiểm tra, phát hiện bị cáo A có súng trên người nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 04 giờ 30 phút, ngày 07/4/2023. Tại Bản kết luận giám định số 2718/KL-KTHS ngày 24/4/2023, của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Công an, kết luận: Khẩu súng là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng, thuộc loại súng ngắn ổ quay chế tạo thủ công bắn đạn nổ cỡ (5,6x15,5mm). Không có cơ sở xác định thời điểm sản xuất, nước sản xuất súng này. Cấu tạo gồm các bộ phận cơ bản như thân, nòng, báng, ổ quay (buồng đạn), cò, búa đập, cơ cấu truyền động. Tính năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất; Năm viên đạn là vũ khí thể thao, thuộc loại đạn cỡ (5,6x15,5mm); không phải là vũ khí quân dụng; không có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng. Không đủ cơ sở xác định thời điểm sản xuất, nước sản xuất các viên đạn này. Số đạn này sử dụng cho khẩu súng nêu trên và các loại súng quân dụng, súng thể thao, súng chế tạo thủ công. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 69/2023/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Bạc Liêu quyết định: Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo A 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Ngày 09/10/2023 bị cáo A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm: - Về hình thức: Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên cấp phúc thẩm chấp nhận và đưa ra xét xử là hợp lệ. - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa bị cáo A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét

xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và hưởng án treo khi nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, nên hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định pháp luật. [2] Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ và Kết luận giám định số 2718/KL-KTHS ngày 24/4/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Công an chứng minh được bị cáo A đã có hành vi tàng trữ 01 khẩu súng trên người, bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 04 giờ 30 phút, ngày 07/4/2023. [3] Hành vi nêu trên của bị cáo A bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm vào trật tự, an toàn xã hội qua việc xâm phạm vào các quy định độc quyền của Nhà nước về chế tạo, quản lý vũ khí quân dụng. [4] Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “gia đình có công với cách mạng” theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới; việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo là không đủ đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, nên cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà cần chấp nhận như đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp. [5] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Bạc Liêu không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [6] Về án phí: Bị cáo A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo A, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số

69/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Bạc Liêu. 2. Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo A 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án. 3. Về án phí: Áp dụng các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. 4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Bạc Liêu không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ