vanban.org

Bản án 94/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông VTK về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với bà HSC Về quan hệ hôn nhân: Ông VTK được ly hôn với bà HSC Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "K-C ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16/8/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

.

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng Xuân

2. Bà Trần Ngọc Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 329/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông VTK, sinh năm 1980; thường trú: 52 khu phố TL, phường AT, thành phố TA, tỉnh B; trú tại: Nhà không số, tổ 24, đường AT12, khu phố TL, phường AT, thành phố TA, tỉnh B, có mặt.

- Bị đơn: Bà HSC, sinh năm 1982; thường trú: 52 khu phố TL, phường AT, thành phố TA, tỉnh B; trú tại: Nhà không số, tổ 24, đường AT12, khu phố TL, phường AT, thành phố TA, tỉnh BD, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 24/02/2023, bản tự khai ngày 07/7/2023, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn Võ Trọng Khang trình bày:

Ông VTK và bà HSC tự nguyện tìm hiểu nhau khoảng 01 năm, tiến đến hôn nhân có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 02/6/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, bà C ghen tuông vô cớ, tiền bạc ai nấy giữ, bản thân ông phải đi làm lo phát triển kinh tế, chi tiêu gia đình và tiền ăn học cho các cháu, bản thân bà C đi làm nhưng không phụ giúp kinh tế gia đình, bà C không tin tưởng nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã nhau khiến cho cuộc sống chung không hạnh phúc. Bà C tính tình hay cáu gắt, chửi bới chồng con và hàng xóm láng giềng, nhiều khi chuyện vợ chồng cũng đi kể người này, người khác. Ông và bà C sống ly thân nhau được 01 năm, sống chung nhà nhưng không còn quan tâm chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống. Nay ông K xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn với bà HSC.

Về con chung: Có 02 con chung tên VTTL, sinh ngày 31/3/2003 và VTK, sinh ngày 05/11/2013, tại đơn khởi kiện ông K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung VTK, sinh ngày 05/11/2013, không yêu cầu bà C phải cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên theo nguyện vọng cháu N muốn sống với bà C thì ông K đồng ý để bà C được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung VTK, sinh ngày 05/11/2013, ông K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Đối với con chung VTTL, sinh ngày 31/3/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Tại văn bản ngày 07/7/2023 bị đơn bà HSC trình bày: Thống nhất lời trình bày của ông K về thời gian kết hôn, quá trình chung sống. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, ông K không chí thú làm ăn, gây ảnh hưởng kinh tế gia đình, ham chơi, không phụ giúp bà việc gia đình và con cái dẫn đến bà phải giữ tiền lương của bà để chăm lo cuộc sống và việc học của các con, vợ chồng chủ yếu mâu thuẫn về kinh tế nên thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau khiến cho cuộc sống chung không hạnh phúc. Từ buổi hòa giải lần đầu thì ông K mới nói vợ chồng sống ly thân và 01 tháng nay thì vợ chồng mới ly thân thực sự. Do hàng xóm không thân thiện nên bà có nói qua nói lại với hàng xóm chứ bản thân bà không ghen tuông như ông K trình bày. Nay ông K yêu cầu được ly hôn với bà thì bà không đồng ý vì bà vẫn còn tình cảm với ông K, bà không muốn con cái sống xa cha, xa mẹ.

Về con chung: Có 02 con chung tên VTTL, sinh ngày 31/3/2003 và VTN, sinh ngày 05/11/2013. Trường hợp tòa án giải quyết cho ông K được ly hôn thì bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung VTN, sinh ngày 05/11/2013, yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Đối với con chung VTTL sinh ngày 31/3/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán, thư ký được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Quá trình tố tụng bị đơn bà HSC cư trú tại địa chỉ nhà không số, tổ 24, đường An Thạnh 12, khu phố Thạnh Lợi, phường An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 36; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, yêu cầu giải quyết con chung không yêu cầu giải quyết về tài sản chung; nợ chung. Như vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp nuôi con.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông VTK và bà HSC có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 02/6/2003, do đó quan hệ hôn nhân của ông Khang và bà Ca là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình tố tụng Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng ông K và bà C tại nơi cư trú, tuy nhiên địa phương không rõ.

Ông K yêu cầu được ly hôn với bà C với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, vợ chồng không tin tưởng nhau, mâu thuẫn về kinh tế, bà C ghen tuông, tính tình hay cáu gắt, chửi bới chồng con và hàng xóm láng giềng, nhiều khi chuyện vợ chồng cũng đi kể người này, người khác. Bà C thống nhất vợ chồng có mâu thuẫn là kinh tế nhưng do ông K không chí thú làm ăn, đồng thời do hàng xóm không thân thiện nên bà có nói qua nói lại với hàng xóm chứ bản thân bà không ghen tuông như ông K trình bày. Xét thấy, quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sống có trách nhiệm, thương yêu, chăm sóc, quan tâm lẫn nhau. Vợ chồng ông K, bà C vì bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống có nhiều mâu thuẫn. Từ khi ông K nộp đơn khởi kiện đến nay tình trạng hôn nhân của ông K, bà C vẫn không cải thiện, mạnh ai nấy sống, đây là lần thứ 2 ông K nộp đơn ly hôn nên có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của vợ chồng ông K, bà C không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do tình trạng hôn nhân của ông K, bà C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K về việc ly hôn với bà C.

- Về con chung: Có 02 con chung tên VTTL, sinh ngày 31/3/2003 và VTN, sinh ngày 05/11/2013. Ông K và bà C thống nhất trường hợp tòa án giải quyết ly hôn thì bà C được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung VTN sinh ngày 05/11/2013, ông K tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Đối với con chungVTTL, sinh ngày 31/3/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung; nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông VTK về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với bà HSC

- Về quan hệ hôn nhân: Ông VTK được ly hôn với bà HSC

- Về con chung: Giao con chung VTN sinh ngày 05/11/2013 cho bà HSC được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông VTK cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Đối với con chung TTTL, sinh ngày 31/3/2003 đã trưởng thành nên không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông VTK phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004255 ngày 31/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Ông Khang còn phải nộp thêm số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn, bị có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ