- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị K.
- Căn cứ chính? Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07-3-2023 V/v tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Phúc Hảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Phúc
Bà Nghiêm Thị Xuân Huê
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 645/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023và Quyết định hoãn phiên tòa số 576/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị K, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số x đường G, phường B, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phúc L, sinh năm 1956; Địa chỉ: Số 2x đường G, phường B, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn đề ngày 02 tháng 12 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Thị K trình bày:
Bà và ông Nguyễn Phúc L tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 10 năm 1983 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 7x, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.
Thời gian đầu kết hôn, bà và ông Nguyễn Phúc L chung sống hòa thuận hạnh phúc. Nhưng sau đó vì bất đồng quan điểm và không có tiếng nói chung, hai ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẩn, xích mích. Bà và ông Nguyễn Phúc L đã ly thân, bà đã dọn ra khỏi nhà đến sinh sống tại địa chỉ khác từ ngày 30 tháng 8 năm 1995 và không liên lạc với ông Nguyễn Phúc L cho đến nay. Nay nhận thấy mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng không thể hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Phúc L. Về nuôi con: Có 01 con chung là Nguyễn Phúc T, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1987 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn là ông Nguyễn Phúc L không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt niêm yết công khai cho ông Nguyễn Phúc L, đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thông báo phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải cho ông Nguyễn Phúc L, nhưng ông Nguyễn Phúc L vẫn không có mặt do đó vụ án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn không có mặt. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là bà Lê Thị K khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là ông Nguyễn Phúc L cư trú tại số 2x đường G, phường B, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Công an phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn có hộ khẩu thường trú tại số 2x đường G, phường B, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh hiện đã chuyển đi nhưng không rõ đi đâu, làm gì. Căn cứ điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án, bị đơn thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật Cư trú nên địa chỉ số 2x đường G, phường B, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. [2] Nguyên đơn có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 10 năm 1983 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 7x, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ nhiều năm do tính tình, quan điểm sống không phù hợp, không có tiếng nói chung, không tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; nguyên đơn và bị đơn đã ly thân, nguyên đơn đã dọn ra khỏi nhà đến sinh sống tại địa chỉ khác từ ngày 30 tháng 8 năm 1995 và không liên lạc với ông Nguyễn Phúc L cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cố tình vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thể hiện bị đơn không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Giữa nguyên đơn và bị đơn có một con chung là Nguyễn Phúc T, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1987 đã trưởng thành, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2106 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2106 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị K.
Về hôn nhân: Bà Lê Thị K được ly hôn với ông Nguyễn Phúc L.
Về nuôi con: Nguyên đơn và bị đơn có con chung là Nguyễn Phúc T, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1987 đã trưởng thành, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2. Về án phí: Bà Lê Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/00xxxxx ngày 09 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Phúc Hảo |