- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lâm Thị D xin ly hôn với anh Phan Vũ L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2023/HNGĐ-ST Ngày 23 – 5 – 2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Tuấn.
Bà Bùi Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị D, sinh năm 1998 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh C ..
- Bị đơn: Anh Phan Vũ L, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh C ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/02/2023 và các lời khai tại Tòa án chị Lâm Thị D (nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Phan Vũ L chung sống với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, đến năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh L không quan tâm lo lắng gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh L có người phụ nữ khác và đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, nay chị yêu cầu ly hôn với anh Phan Vũ L.
Về con chung: Chị xác định có 03 con chung tên Phan Minh Nhựt, sinh ngày 15/7/2016; Phan Khánh Băng, sinh ngày 05/8/2018 và Phan Khánh Đăng, sinh ngày 26/11/2019. Hiện nay, cháu Phan Khánh Đăng đang sống với chị; các cháu Phan Minh Nhựt và Phan Khánh Băng đang sống với anh L. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu Phan Khánh Đăng và đồng ý giao hai cháu Phan Minh Nhựt, Phan Khánh Băng cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng. Không đặt ra cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; nợ thu, nợ trả: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Phan Vũ L, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của chị Lâm Thị D nhưng anh L không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh L tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh L vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa anh, chị được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Phan Vũ L tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh L vắng mặt không lý do; nguyên đơn chị Lâm Thị D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L, chị D theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Tranh chấp giữa chị Lâm Thị D với anh Phan Vũ L là tranh chấp hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn và nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Phan Vũ L có địa chỉ cư trú tại ấp Phấn Thạnh, xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Lâm Thị D và anh Phan Vũ L chung sống với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, đến năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn 57/2017 ngày 15/5/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị D yêu cầu được ly hôn với anh L, với nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, anh L không quan tâm lo lắng gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh L có người phụ nữ khác và đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử anh L không có ý kiến bằng văn bản hay trực tiếp tranh tụng tại phiên tòa để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của chị D, cũng như tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho anh. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị D và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị D, cho chị D được ly hôn với anh L là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị D xác định có 03 con chung tên Phan Minh Nhựt, sinh ngày 15/7/2016; Phan Khánh Băng, sinh ngày 05/8/2018 và Phan Khánh Đăng, sinh ngày 26/11/2019. Hiện nay, cháu Phan Khánh Đăng đang sống với chị D; các cháu Phan Minh Nhựt và Phan Khánh Băng đang sống với anh L. Sau khi ly hôn chị D yêu cầu được nuôi cháu Phan Khánh Đăng và đồng ý giao hai cháu Phan Minh Nhựt, Phan Khánh Băng cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng. Không đặt ra cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ trước đến nay chị D nuôi dưỡng cháu Phan Khánh Đăng cũng đã ổn định, sức khỏe vẫn phát triển bình thường. Mặt khác, anh L cũng không có ý kiến yêu cầu được nuôi cháu Phan Khánh Đăng. Đối với các cháu Phan Minh Nhựt và Phan Khánh Băng vẫn đang sống cùng với anh L cũng đã ổn định, sức khỏe phát triển bình thường, chị D đồng ý giao hai cháu Phan Minh Nhựt, Phan Khánh Băng cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, anh L cũng không có ý kiến gì nên yêu cầu nuôi con của chị D là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D giao cháu Phan Khánh Đăng cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng và giao hai cháu Phan Minh Nhựt, Phan Khánh Băng cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D không đặt ra cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung; nợ thu, nợ trả: Chị D xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị D phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị D.
[1] Về hôn nhân: Chị Lâm Thị D được ly hôn với anh Phan Vũ L.
[2] Về con chung:
Giao cho chị Lâm Thị D được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Phan Khánh Đăng, sinh ngày 26/11/2019. Anh Phan Vũ L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Giao cho anh Phan Vũ L được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung tên Phan Minh Nhựt, sinh ngày 15/7/2016 và Phan Khánh Băng, sinh ngày 05/8/2018. Chị Lâm Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lâm Thị D phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008829 ngày 17/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước; chị D đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, chị Lâm Thị D và anh Phan Vũ L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS cùng cấp; - Phòng KTNV&THA; - UBND xã Thạnh Phú; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hiền |