- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê XH về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THANH HÓA Bản án số: 94/2023/HN&GĐ-ST Ngày 18-8 - 2023 V/v:“Tranh chấp về nuôi con sau khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H2 XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quý
Ông Nguyễn Ngọc Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang – Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 323/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023 về việc: “Tranh chấp về nuôi con sau khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê XH, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn Mỹ Trạch, xã Quảng Trạch, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
- Bị đơn: Chị Đào TH, sinh năm 1987
Địa chỉ hiện nay: Số 45, đường Nguyễn Trãi, phường Ba Đình, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa hôm nay, có mặt anh H và chị H2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/5/2023, bản tự khai ngày 29/6/2023, quá trình làm việc tại tòa án, nguyên đơn anh Lê XH trình bày như sau:
Anh và chị Đào TH kết hôn với nhau vào năm 2009, sau khi kết hôn anh chị có hai con chung là cháu Lê XAsinh ngày 13/4/2010 và cháu Lê Xuân Đ1 sinh ngày 05/10/2015. Đến năm 2020 do mâu thuẫn nên không thể tiếp tục chung sống và duy trì tình trạng hôn nhân, anh đã khởi kiện ly hôn và Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 55/2020/QĐST – HNGĐ ngày 22/5/2020, thỏa thuận cụ thể như sau: Về hôn nhân: Anh Lê XH và chị Đào TH thuận tình ly hôn; Về con chung: Giao cháu Lê XAcho anh Lê XH trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Xuân Đ1 cho chị Đào TH trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi cháu Đ1 về ở với chị H2 được một thời gian (khoảng 6 tháng) thì chị H2 không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom và chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con: không có nhà ở và công việc ổn định, bản thân cháu Lê Xuân Đ1 có biểu hiện học hành sa sút. Chị H2 đã giao cháu Đ1 cho anh H nuôi dưỡng từ tháng 6/2021 đến nay. Chị H2 có hứa (qua lời nói) sẽ chu cấp nuôi dưỡng cho cháu Đ1 2.000.000đ/tháng nH từ đó đến nay không chu cấp.
Hiện nay, cháu Lê Xuân Đ1 hiện nay sinh sống và học tập ổn định với gia đình anh, cháu đang theo học tại trường Tiểu học Quảng Trạch từ lớp 1 đến nay là trường thuộc địa bàn anh cư trú nên việc để anh trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cháu tiếp tục cuộc sống bình thường không bị xáo trộn gây ảnh hưởng tâm lý. Cháu Lê Xuân Đ1 cũng có nguyện vọng được ở với anh do mẹ cháu hiện nay đã lập gia đình riêng.
Trong quá trình cháu Đ1 về sống với anh đến nay, chị H2 nhiều lần đòi hỏi đón cháu không phù hợp với lịch sinh hoạt của gia đình và lịch học của cháu, chị H2 còn dọa nạt việc đưa cháu về làm cho cháu và anh bất an, cuộc sống của cháu không ổn định
Bản thân anh có công việc gần nhà, có mức thu nhập đảm bảo để nuôi cả hai con ăn học bình thường, có điều kiện đưa đón và chăm sóc các cháu. Còn chị H2 hiện nay đã có gia đình mới nên không có nhiều điều kiện chăm nom, săn sóc và dạy bảo con.
Do vậy anh đề nghị Tòa án thay đổi người nuôi con giao cháu Lê Xuân Đ1 là con chung của anh và chị H2 cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu chị H2 cấp dưỡng nuôi con chung
Theo bản tự khai ngày 16/6/2023 và quá trình giải quyết, chị Đào TH trình bày:
Chị và anh Lê XH kết hôn với nhau vào năm 2009, sau khi kết hôn anh chị sinh được hai con chung là cháu Lê XAsinh ngày 13/4/2010 và cháu Lê Xuân Đ1 sinh ngày 05/10/2015. Đến năm 2020 do mâu thuẫn nên không thể tiếp tục chung sống và duy trì tình trạng hôn nhân, nên anh H đã khởi kiện ly hôn và Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 55/2020/QĐST – HNGĐ ngày 22/5/2020, thỏa thuận cụ thể như sau: Về hôn nhân: Chị H2 và anh H thuận tình ly hôn; Về con chung: Giao cháu Lê XAcho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Xuân Đ1 cho chị H2 trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, cháu Đ1 ở với chị một thời gian thì anh H có nói với chị là thấy công việc của chị bận rộn, con lại đến lúc đi học chữ nên để anh mang con về ở với ông bà nội và để hai anh em được sống gần nhau và bất cứ lúc nào chị nhớ con đều có thể đến đón con. Bản thân chị đã có nhiều năm sống cùng bố mẹ anh H, thấy rằng ông bà nội cháu chăm sóc cháu rất tốt nên cũng đồng ý cho anh H đến đón cháu về cho đi học.
Từ đó đến nay khi nào chị muốn đón cháu về đều liên lạc trước với mẹ chồng, nếu không được thì chị cũng không miễn cưỡng. Tuy nhiên bà nội đưa ra nhiều lý do làm cho chị không đón cháu được. Từ khi cháu Đ1 đến ở với anh H, chị vẫn có trách nhiệm, thường xuyên gửi đồ ăn mua quần áo sách vở cho cả hai anh em cháu.
Về lời trình bày của anh H là không đúng sự thật: Chị có công ăn việc làm với mức thu nhập đảm bảo để nuôi con, Chị có chỗ ở ổn định, khi anh H đón cháu Đ1 về thì anh chị không có thỏa thuận cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng như anh H trình bày. Lúc cháu Đ1 ở cùng chị thì chưa đi học lớp một nên không có việc học hành sa sút.
Bản thân chị hiện nay đang ở với gia đình chồng mới, gia đình chị hiếm con cháu nên bố mẹ chồng và chồng của chị hiện nay nhiều lần thúc dục chị đón cháu về để nuôi dạy và cho đi học.
Do vậy chị không đồng ý với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của anh Lê XH. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 13/7/2023 cháu Lê Xuân Đ1 trình bày: Hiện tại bố H và mẹ H2 đã ly hôn, nguyện vọng của cháu mong muốn được ở cùng mẹ.
Tại biên bản xác minh ở địa phương thể hiện: chị Đào TH trước đây ở phố Môi, phường Quảng Tâm, thành phố Thanh Hóa. Tuy nhiên vào khoảng tháng 10/2022 chị kết hôn với anh Dũng ở số nhà 45 Nguyễn Trãi, phường Ba Đình, thành phố Thanh Hóa và hiện nay chị H2 đã chuyển hộ khẩu về cùng địa chỉ với anh Dũng. Về điều kiện kinh tế thì gia đình anh Dũng khá giả,bản thân chị H2 ở chung với bố mẹ chồng ông Thành bà Xuân, nhà kinh doanh buôn bán xe đạp, về công việc thì chị H2 làm nghề kinh doanh spa tại nhà,thu nhập ổn định, cháu Lê Xuân Đ1 hiện nay đã về ở với chị H2 và anh Dũng. Cháu được đi học và sinh hoạt bình thường như các cháu khác và gia đình chồng hiện tại của chị H2 là một gia đình tốt không có tai tiếng gì tại địa phương.
Tại phiên tòa, Nguyên đơn anh Lê XH giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giao quyền nuôi cháu Lê Xuân Đ1, sinh ngày 05/10/2015 cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu chị H2 cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị H2 không đồng ý việc thay đổi nuôi con của anh H. Đề nghị giữ nguyên theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 55/2020/QĐST-HNGĐ ngày 05/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ, đảm bảo đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện anh Lê XH về việc thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Lê Xuân Đ1; anh Lê XH chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Cháu Lê Xuân Đ1, sinh ngày 05/10/2015 là con chung của anh H và chị H2, anh H và chị H2 đã ly hôn, giao cháu Đ1 cho chị H2 trực tiếp nuôi dưỡng, trước đây chị H2 sinh sống tại địa chỉ phố Môi, phường Quảng Tâm, thành phố Thanh Hóa, hiện nay chị H2 đang cư trú tại phường Ba Đình, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; anh H khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, theo khoản 3 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.
Về nội dung: Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 55/2020/QĐST – HNGĐ ngày 22/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương đã quyết định trong đó phần con chung: công nhận cháu Lê XAsinh ngày 13/4/2010 và cháu Lê Xuân Đ1, sinh ngày 05/10/2015 là con chung của anh H và chị H2; giao cháu XAcho anh H và giao cháu Xuân Đ1 cho chị H2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung và anh H, chị H2 có quyền thăm nom, chăm sóc con không ai được cản trở.
Khi ly hôn anh chị đã thỏa thuận thống nhất với nhau về việc mỗi người nuôi một con chung, thỏa thuận này không trái các quy định pháp luật và phù hợp với truyền thống, phong tục của Việt Nam và cũng phù hợp với điều kiện của anh chị. Sau khi ly hôn, chị H2 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Xuân Đ1, đến khi cháu sắp vào lớp 1 thì anh chị thống nhất đưa cháu đến ở chung với anh trai và ông bà nội để thuận tiện cho việc đi học. Việc cháu Xuân Đ1 về ở với ai trong thời gian nào do anh H và chị H2 tự nguyện thỏa thuận với nhau để thuận lợi cho việc chăm sóc cháu và sinh hoạt của anh chị.
Chị H2 có công việc và thu nhập ổn định, có thời gian và chỗ ở thuận lợi cho việc chăm sóc cháu Đ1 và cho cháu đi học. Do đó về điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cháu Đ1 của chị H2 vẫn đảm bảo. Bản thân chị là người phụ nữ, là người mẹ nguyện vọng của chị được nuôi con của mình là hoàn toàn chính đáng.
Tuy chị H2 hiện nay đã lập gia đình với người chồng mới, theo thông tin địa phưong cung cấp anh chị ở chung với bố mẹ chồng, gia đình chồng chị có điều kiện, theo chị H2 gia đình mới của chị cũng mong muốn chị đưa cháu Đ1 về sống chung để trong nhà có tiếng con trẻ do vậy tiếp tục giao cháu Đ1 cho chị H2 trực tiếp nuôi dưỡng như quyết định số 55/2020/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2020 của TAND huyện Quảng Xương, việc yêu cầu của anh H về thay đổi người trực tiếp nuôi con là không phù hợp với quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên không có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Anh Lê XH phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 81 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê XH về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Tiếp tục giao cháu Lê Xuân Đ1, sinh ngày 05/10/2015 cho chị Đào TH trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 55/2020/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương.
Về án phí: Anh Lê XH chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nH được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên lai thu số AA/2021/0003088/ngày 07/6/2023 (Anh H đã thi hành xong).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án mà người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa - VKSND tp. Thanh Hóa. - Chi cục THADS tp. Thanh Hóa. - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |