vanban.org

Bản án 94/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại Lý Th không yêu cầu bị cáo bồi thường Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (đ…"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2022/HS-ST
Ngày 27-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm My.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Phương;

Ông Tạ Văn Tính.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Quốc Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1988 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh N; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Lý Th; vợ tên Nguyễn Thị T (đã ly hôn); con có 02 người, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011; tiền án: Không có.

Tiền sự: Quyết định số 89/QĐ-XPHC ngày 01/7/2021, Công an xã Tân Đông, huyện Tân Châu xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, nộp phạt ngày 01/8/2021.

Nhân thân: Quyết định số 161/QĐ-XPHC ngày 05/11/2019, Công an xã Tân Hà, huyện Tân Châu xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, nộp phạt ngày 07/5/2020.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Lý Th, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ Z, ấp P, xã H, huyện C, tỉnh N. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp ổn định và không có tiền tiêu xài, sau khi ly hôn vào năm 2019, Nguyễn Văn Q dọn về nhà cha mẹ ruột tại ấp P, xã H, huyện C sinh sống. Q biết mẹ ruột bà Lý Th thường ngày cất tiền trong tủ quần áo ở trong phòng ngủ nên nảy sinh ý định trộm cắp, khoảng 8 giờ ngày 08/01/2022, lợi dụng lúc bà Th đi làm ở nhà chỉ có một mình nên Q vào phòng ngủ mở tủ lấy trộm số tiền 50.000.000 đồng của bà Th sau đó bỏ trốn. Khi đi làm về phát hiện bị mất trộm số tiền trên bà Th trình báo Công an xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, sau khi tiêu xài hết số tiền đã trộm cắp của bà Th, ngày 28/6/2022, Q đến cơ quan Công an đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

* Kết quả thu giữ vật chứng: Không có.

* Kê biên tài sản: Nguyễn Văn Q không có tài sản nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên.

* Về trách nhiệm dân sự: Bà Lý Th không yêu cầu Q bồi thường số tiền đã lấy trộm.

Tại bản Cáo trạng số: 84/CT-VKSTC ngày 09/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Bị hại bà Lý Th không yêu cầu bị cáo bồi thường. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ để bị cáo sớm trở về phụ giúp gia đình, nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Lời nói sau cùng: Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định:

Do không có tiền tiêu xài, khoảng 08 giờ ngày 08/01/2022, tại nhà bà Lý Th (mẹ ruột bị cáo Nguyễn Văn Q) tại ấp P, xã H, huyện C, tỉnh N, Nguyễn Văn Q đã có hành vi lén lút vào phòng ngủ, mở tủ lấy trộm số tiền 50.000.000 đồng của bà Th, sau đó bỏ trốn. Sau khi phát hiện bị mất số tiền trên, bà Th trình báo Công an xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu. Ngày 28/6/2022, Nguyễn Văn Q đến cơ quan Công an đầu thú.

Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và còn ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình gây ra.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Bị cáo có nhân thân xấu, có một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lý Th không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 50.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2022.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại Lý Th không yêu cầu bị cáo bồi thường

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ