vanban.org

Bản án 94/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 16/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đô L 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đô L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đô L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Đô L 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2022/HSST
Ngày: 16/6/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Xuân Hùng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Cao Thị Thúy

2. Bà Hoàng Thị Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hiên - Thư ký tòa án nhân dân huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An.

- Đại diện VKS nhân dân huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồng Phong– Kiểm sát viên .

Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 79/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2022/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Đô L. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/3/1993 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Trung H, sinh năm 1967; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1971; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 01/3/2022, bị UBND xã T xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản

Nhân thân: Ngày 27/6/2018 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 53/2018/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/4/2019.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 04/4/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Đào Công T, sinh năm 1971

Trú tại: Xóm 6, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần Đình H, sinh năm 1993

Trú tại: Xóm T, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt)

+ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971

Trú tại: Xóm T, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27/3/2021, Nguyễn Đô L điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, BKS 37F2-765.43 chở Trần Đình H (sinh năm 1993, trú tại xóm T, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An) đi từ xã H đến xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến nhà ông B thuộc xóm 6, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An thấy có 01 xe mô tô dựng ở mép đường, trên yên xe có 01 bì xác rắn màu trắng đựng lúa của ông Đào Công T (sinh năm 1971, trú tại xóm 6, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An) không có người trông coi. Lúc này, L điều khiển xe mô tô đến sát bì lúa, H xuống xe và đưa bì lúa sang xe của L. Sau khi trộm cắp được tài sản, L điều khiển xe mô tô chở H và bì lúa đi về nhà, trên đường đi thì bị Công an xã H, huyện D phát hiện, lập biên bản sự việc, tạm giữ 01 bì xác rắn màu trắng, trong bì có chứa 46kg lúa và 01 xe mô tô Yamaha Exiter BKS 37F2-765.43

Ngày 01/4/2022, Công an xã H chuyển hồ sơ và vật chứng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện D để tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 04/4/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D đã kết luận: 01 bì xác rắn màu trắng, trong bì chứa 46kg lúa khô (lúa Phú Ưu 978), trị giá 322.000 đồng (Ba trăm hai mươi hai nghìn đồng).

* Vật chứng vụ án:

- 01 (một) bì xác rắn màu trắng, bên trong có chứa 46kg lúa khô, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu ông Đào Công T.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 37F2-765.43, qua xác minh là xe của bà Nguyễn Thị M (mẹ của L) cho L mượn để đi chơi nên Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu.

Cáo trạng số 105/CT-VKSDC ngày 09/5/2022 đã truy tố bị cáo Nguyễn Đô L về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Đô L mức án từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

Về vật chứng vụ án:

- 01 (một) bì xác rắn màu trắng, bên trong có chứa 46kg lúa khô, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu ông Đào Công T nên không xem xét

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 37F2-765.43, qua xác minh là xe của bà Nguyễn Thị M (mẹ của L) cho L mượn để đi chơi, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bÞ h¹i trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Đô L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng. Như vây, đã đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 27/3/2022, tại khu vực đường liên xã gần công ty may Nam Thuận thuộc xóm 10, xã M, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện Nguyễn Đô L và Trần Đình H có hành vi trộm cắp 01 bì lúa khô có khối lượng 46kg, trị giá 322.000 đồng của ông Đào Công T.

Bị cáo trộm cắp tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng vào ngày 01/3/2022, Nguyễn Đô L đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 27/3/2022 bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên Viện kiểm sát huyện D truy tố bị cáo ra Tòa án nhân dân huyện D để xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng quy định của pháp luật.

. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. HĐXX xét thấy cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và để răn đe phòng ngừa chung.

. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 27/6/2018 bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 53/2018/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/4/2019. Việc bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật nên cần phải đưa ra một mức án nghiêm tương xứng hành vi phạm tội, nhất thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Do đó, HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp. Hội đồng xét xử xét miễn áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

. Đối với Trần Đình H là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với Nguyễn Đô L, do trị giá tài sản dưới 2.000.000 đồng, phạm tội lần đầu nên Trần Đình H không bị xử lý hình sự. Cơ quan Công an huyện D đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Đình H theo quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Thị M là chủ sở hữu chiếc xe mô tô do Nguyễn Đô L sử dụng để đi trộm cắp tài sản, do không biết L mượn xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không phạm tội.

. Về vật chứng vụ án: - 01 (một) bì xác rắn màu trắng, bên trong có chứa 46kg lúa khô, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu ông Đào Công T nên miễn xét

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển kiểm soát 37F2-765.43, qua xác minh là xe của bà Nguyễn Thị M (mẹ của L) cho L mượn để đi chơi, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu nên miễn xét.

. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đô L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời gian quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm a khoản 1, Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đô L 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đô L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tòa án niêm yết hợp lệ bản án. Nơinhận:

Cỡ chữ