vanban.org

Bản án 94/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 22/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Giết người”;

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 12 (mười hai) năm t , thời hạn tù tính t ngày 23/12/2021. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Giết người”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94 /2022/HS-ST
Ngày: 22- 07-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương.

Thẩm phán: Bà Phạm Thị Xuân Đào;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thu Vân;

Bà Lê Ngọc Sương;

Bà Phan Thị Kim Tước.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Cao - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2022/TLST-HS ngày 29/06/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2022/QĐXXST-HS ngày 07/07/2022 đối với:

1. Bị cáo: Lê Văn T, sinh năm: 1973 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: Phường B1, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: p V, X, huyện Y, tỉnh Long An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T n giáo: Phật. Trình độ học v n: lớp 5/12 - Nghề nghiệp: Làm thuê. Họ tên cha: Lê Văn Th1- sinh năm 1930. Họ tên mẹ: B i Thị Ch- sinh năm 1937. Gia đình c 06 anh chị em, ị can là con th năm. V : Nguyễn Thị Kim Ng, sinh năm 1982 và c 02 con lớn sinh năm 2003, nh sinh năm 2008 . Tiền án, tiền sự sự: kh ng. Bị cáo ị ắt tạm giữ ngày 23/12/2021.

2. Người bị hại: Anh Nguyễn Thái H, sinh năm 1982, cư trú tại phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

3. Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1971, địa chỉ: khu phố 3, phường B2, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Anh Lê Hùng M2, sinh năm 1971, địa chỉ: khu phố 3, phường B2, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

- Chị Phan Thị Kim Th, sinh năm 1982, địa chỉ: X A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

4. Người bào chữa cho bị cáo:

- Luật sư Nguyễn Khoa Quyền, sinh ngày 07/05/1960, địa chỉ: K5/30, khu phố 3, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai.

- Luật sư Phạm Thị Mỹ Linh, sinh ngày 19/01/1981, địa chỉ: Văn phòng Luật sư Minh Chính, số 55B, Nguyễn Văn Đậu, phường 6, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, anh H, chị Th, ông Quyền, chị Linh, vắng mặt anh M, anh M2).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 26/02/2016, Lê Văn T cùng anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1971, cư trú tại phường B2, thành phố B và anh Lê Hùng M2, sinh năm 1971, cư trú tại phường B2, thành phố B đến quán cháo lòng thuộc phường L, thành phố B để ăn cháo và uống rư u. Khoảng 15 phút sau, anh M gọi điện thoại cho anh Nguyễn Thái H, sinh năm 1982, cư trú tại khu phố 1, phường A, thành phố B đến ngồi ăn uống chung. Đến khoảng 11 giờ 30 phút c ng ngày thì ngưng và tính T đi về, anh H đưa cho anh M2 200.000đ hai trăm ngàn đồng để phụ tính tiền. Sau đ , anh H rủ anh M, anh M2 và T đi đến quán Karaoke “AT” thuộc khu phố Th3, phường L, thành phố B cách quán cháo lòng khoảng 500m để hát Karaoke. Tại đây, anh H, anh M, anh M2 và T cùng vào phòng hát Karaoke và kêu ia uống tiếp. Đến khoảng 14 giờ 30 phút c ng ngày thì giữa anh H và anh M2 ảy ra mâu thu n c i nhau nhưng đư c anh M can ngăn. Anh H và anh M2 đi ra ngoài. Th y vậy, anh M và T cũng đi ra ngoài phía trước quán Karaoke. Anh H gọi điện thoại kêu v là chị Phan Thị Kim Th, sinh năm 1982 đến chở về. Lúc này, anh M2 l y e m t

đi ra ngoài mua thuốc hút còn anh M, anh H và T đ ng chờ trước quán Karaoke. Khoảng 15 phút sau, chị Th đi c ng em trai của anh H là Nguyễn T n Đ, sinh năm 1985, cư trú tại phường A, thành phố B đến. Khi nhìn th y anh M2 điều khiển e quay lại thì anh H n i với Đ là “N đ ”. Nghe vậy, Đ cầm l y cái ẻng dài khoảng 1,2m ở gần đ chạy lại đánh về phía anh M2 nhưng kh ng trúng, anh M2 uống e và chụp l y cái ẻng của Đ đang cầm, hai người ắt đầu giằng co với nhau. Lúc này, anh H cũng ng vào c ng với Đ đánh anh M2. Th y vậy, T cầm l y một cây gỗ tròn dài khoảng 80cm, đường kính khoảng 3cm đến 4cm ở gần đ đi t phía sau đến chỗ anh H đang c ng Đ giằng co với anh M2 rồi đánh liên tiếp hai cái trúng vào phía ên trái sau đầu của anh H gây thương tích. Anh H đư c gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa Đồng Nai c p c u và điều trị thương tích. Đến ngày 05/04/2016, thì anh H làm đơn tố cáo Lê Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố Biên Hòa để điều tra, ử lý. Qua điều tra ngày 14/7/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố Biên Hòa ra quyết định khởi tố vụ án và ngày 18/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thành phố B đ khởi tố ị can đối với Lê Văn T về tội Cố ý gây thương tích đồng thời ra quyết định truy n đối với T, đến ngày 23/12/2021, thì ắt đư c T và ra quyết định thay đ i quyết định khởi tố vụ án, khởi tố ị can đối với Lê Văn T t tội cố ý gây thương tích sang tội giết người, rồi chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an tỉnh Đồng Nai để điều tra theo thẩm quyền.

Vật ch ng của vụ án: 01 khúc gỗ mà ị can Lê Văn T d ng đánh vào đầu anh Hào, sau khi gây án ong thì T đ v t trên đường, Cơ quan C ng an đ d n T đi tìm vật ch ng nhưng kh ng tìm th y.

Tại ản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0246/GĐPY/2016 ngày 21/03/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận thương tích của anh Nguyễn Thái H như sau:

- D u hiệu chính qua giám định:

T n thương tụ máu ngoài màng c ng trán đỉnh trái, ph u thuật để lại khuyết sọ đáy c ng kích thước 8,5 07 cm, điện n o đồ c hội ch ng suy như c. T lệ 30 .

Ch n thương đầu gây máu tụ ngoài màng c ng trán đỉnh trái đ ph u thuật l y máu tụ kết quả tốt. T lệ 25 .

02 vết thương v ng đỉnh trái để lại sẹo kích thước 04 0,3 và 02 0,3 cm. T lệ 02 .

T lệ t n thương cơ thể áp dụng theo phương pháp cộng l i do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 49 .

- Vật gây thương tích là vật tày.

Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Thái H yêu cầu ị can Lê Văn T ồi thường số tiền 114.033.398 đồng Một trăm mười ốn triệu kh ng trăm a mươi a nghìn a trăm chín mươi tám đồng , là tiền chi phí điều trị thương tích, thu nhập ị m t và t n th t tinh thần. Gia đình ị cáo T đ ồi thường số tiền 60.000.000 đồng Sáu mươi triệu đồng , còn lại 54.033.398 đồng thì chưa ồi thường nên căn c Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 590 Bộ luật Dân sự. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên: Buộc ị can Lê Văn T phải ồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Thái H theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 2559/CT-VKS-P2 ngày 27/06/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đ truy tố bị cáo Lê Văn T, về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T đ khai nhận tội và khẳng định cáo trạng viện kiểm sát nhân dân tỉnh truy tố bị cáo về tội giết người là đúng kh ng oan sai, bị cáo đề nghị HĐXX giảm án cho bị cáo.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát khẳng định cáo trạng truy tố là đúng, ị cáo đ nhận tội. Tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, nhân thân tốt đ bồi thường cho bị hại đư c 60.000.000đ sáu mươi triệu đồng). Đề nghị xử bị cáo m c án 12 -14 năm t và uộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại.

Người bào chữa cho bị cáo Luật sư Nguyễn Khoa Quyền trình bày quan điểm bào chữa: Bị cáo kh ng c động cơ giết người, việc d ng cây đánh bị hại là bộc phát, do bênh vực anh M2 và bị cáo có uống rư u bia, không may đánh vào đầu có phần lỗi của bị hại. Bị cáo chưa tiền án, tiền sự. Thành khẩn khai áo, đ ồi thường đư c 60 triệu hoàn cảnh gia đình kh khăn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Luật sư Phạm Thị Mỹ Linh trình bày quan điểm bào chữa: Thống nh t tội danh viện kiểm sát truy tố. Đề nghị HĐXX em lại bị cáo phạm tội kh ng mang tính c n đồ, do tính mạng ông M2 bị xâm phạm nên bị cáo can ngăn và ị đánh nên cầm cây đánh. Hành vi của bị cáo là hành vi vư t qua giới hạn phòng vệ chính đáng, bị cáo bị kích động do bị đánh. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ nhưng lỗi bị hại, thành khẩn đ ồi thường một phần. Đề nghị áp dụng điểm b,c,e,s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54, Điều 15 Bộ luật hình sự .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính h p pháp của các hành vi, quyết định tố tụng sơ thẩm đều thực hiện đầy đủ, trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Tại Tòa bị cáo, người bị hại không khiếu nại thắc mắc gì.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 08 giờ ngày 26/02/2016, tại trước quán Karaoke AT, thuộc khu phố Th3, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn T đ c hành vi d ng 01 cây gậy gỗ tròn dài khoảng 80 cm, đường kính khoảng 03 đến 04 cm đập 02 cái vào v ng đỉnh trái đầu của anh Nguyễn Thái H là v ng trọng yếu trên cơ thể gây thương tích với t lệ t n thương cơ thể là 49 , anh H kh ng chết là do đư c c u chữa kịp thời.

Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là c cơ sở đúng pháp luật. Hành vi của Lê Văn T là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến tính mạng, s c kh e của người khác trái pháp luật. Do đ cần xử m c án nghiêm nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ng a chung.

Khi lư ng hình phạt cũng em ét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như thành khẩn khai áo, đ ồi thường cho bị hại đư c 60.000.000đ, nhân thân tốt chưa T án, T sự, phạm tội chưa đạt. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo không tự nguyện ra đầu thú mà b trốn và bị bắt theo lệnh truy nã nên cần có m c án tương ng.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường t ng cộng 114.033.398đ một trăm mười bốn triệu, không trăm ba mươi ba ngàn, ba trăm chín tám đồng) tại phiên tòa bị hại v n giữ nguyên đề nghị trên và bị cáo T đ đồng ý bồi thường số tiền trên đây là sự tự nguyện của bị cáo nên đư c ghi nhận. Bị cáo đ ồi thường 60.000.000đ như vậy số tiền còn lại 54.033.398đ (năm mươi tư triệu, không trăm ba mươi ba ngàn, ba trăm chín tám đồng) bị cáo tiếp tục bồi thường.

Ý kiến đại diện viện kiểm sát đề nghị tại tòa phù h p nhận định HĐXX nên đư c ch p nhận.

Ý kiến Luật sư Nguyễn Khoa Quyền phù h p nhận định của HĐXX. Riêng Luật sư Phạm Thị Mỹ Linh cho rằng bị cáo phạm tội không mang tính c n đồ là kh ng c cơ sở và đề nghị áp dụng điểm c, e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là kh ng c cơ sở, bởi lẽ bị cáo hoàn toàn không bị ai đánh, bị cáo bị hại hoàn toàn không m u thu n nhau, nhưng chỉ vì bênh vực anh M2 mà bị cáo vô cớ d ng cây đánh vào đầu bị hại.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Giết người”;

1. Áp dụng điểm n, khoản 1, Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15 của Bộ luật hình sự .

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 12 (mười hai) năm t , thời hạn tù tính t ngày 23/12/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Lê Văn T phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Thái H 54.033.398đ (năm mươi tư triệu, không trăm ba mươi ba ngàn, ba trăm chín tám đồng).

Kể t ngày án c hiệu lực pháp luật, người đư c thi hành án c đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án ong t t cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i theo m c l i su t cơ ản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành bản án đư c thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 2.701.669đ (hai triệu bảy trăm lẻ một ngàn sáu trăm sáu mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người ị hại đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ