- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. [2] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2022/HS-ST Ngày: 28-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Quang Cảnh
2. Bà Nguyễn Thị Bông Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Khổng Sơn Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn H, sinh năm 1995, tại Tiền Giang; Thường trú: đường X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Phòng trọ A địa chỉ số T đường B, phường C, quận E, TP. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn D và bà Huỳnh Thị Diệu H; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/11/2021, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo kháng cáo, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2021
- Bị hại:
1/ Bà Nguyễn Thị Trúc M, sinh năm: 1992
Địa chỉ: Đường X1, phường Y1, quận Z1, Thành phố Hồ Chí Minh
2/ Bà Trần Hoàng Huyền T, sinh năm: 2000
Địa chỉ: đường X2, phường Y2, quận Z2, Thành phố Hồ Chí Minh
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1/ Ông Nguyễn Đức T, sinh năm: 1982 Địa chỉ: đường X3, phường Y3, quận Z3, Thành phố Hồ Chí Minh 2/ Ông Đỗ Trung H, sinh năm: 1989 Địa chỉ: đường X4, phường Y4, quận Z4, Thành phố Hồ Chí Minh 3/ Bà Huỳnh Thị Diệu H, sinh năm 1970 Địa chỉ: đường X5, phường Y5, quận Z5, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do không có nghề nghiệp nên Nguyễn Tấn H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Quá trình điều tra xác định bị cáo Nguyễn Tấn H thực hiện các vụ trộm cắp tài sản như sau: Vụ 1: Khoảng 16 giờ 20 phút, ngày 24/10/2021, khi Nguyễn Tấn H đang ngồi trò chuyện cùng chị Nguyễn Thị Trúc M là nhân viên quán cơm “Gà ta 67” địa chỉ số 374 Tân Sơn Nhì, phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú thì có khách đến mua cơm nên chị M đứng dậy bán cơm cho khách và để điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, dung lượng 256G trên bàn. Lúc này, H nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại nên dùng tay phải lấy điện thoại trên của chị M bỏ vào túi quần bên phải của H rồi tẩu thoát. Sau khi trộm được điện thoại H đem đến cửa hàng điện thoại di động T Iphone tại địa chỉ số 1057 Lũy Bán Bích, phường Tân Thành, quận Tân Phú do anh Nguyễn Đức T làm chủ nói là điện thoại nhặt được và bán cho anh Nguyễn Hoàng Phúc (nhân viên cửa hàng) được số tiền 6.000.000 đồng, bị cáo H đã tiêu xài hết. Sau khi phát hiện bị mất trộm điện thoại chị Nguyễn Thị Trúc M đã đến công an phường Tân Sơn Nhì trình báo. Theo bản kết luận định giá tài sản số 2277/KL-HDĐGTS-TTHS ngày 06/12/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Tân Phú kết luận 01 điện Iphone 11 Promax, 256G trị giá 16.500.000 đồng. Vụ 2: Khoảng 14 giờ 30 ngày 20/11/2021, Nguyễn Tấn H đến quán cà phê Queen địa chỉ số 235 Vườn Lài, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú chị Trần Hoàng Huyền T để uống cà phê. Đến khoảng 17 giờ 30 phút, H thấy chị T để điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng, 64G tại quầy pha chế rồi đi bê nước cho khách, nên H lại gần dùng tay phải lấy trộm chiếc điện thoại trên rồi tẩu thoát. Sau đó, H đến cửa hàng mua bán điện thoại di động Phú Thành Store tại địa chỉ số 124A Thoại Ngọc Hầu, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú do anh anh Đỗ Trung H làm chủ bán điện thoại vừa trộm cắp được cho anh H với giá 5.300.000 đồng. Anh H không đủ tiền mặt nên đưa cho H 1.300.000 đồng tiền mặt và dùng tài khoản số 0441000719456 của ngân hàng Vietcombank chuyển số tiền 4.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng TPbank của Nguyễn Tấn H. H tiêu xài hết 100.000 đồng và đưa 1.000.000 đồng cho mẹ ruột là bà Huỳnh Thị Diệu H để trả tiền thuê phòng trọ, còn 200.000 đồng H giữ trong người. Đến 21 giờ cùng ngày H bị chị T phát hiện và bắt giữ giao cho Công an phường Phú Thọ Hòa xử lý.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 2279/KL-HDĐGTS-TTHS ngày 06/12/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Tân Phú kết luận 01 điện Iphone XS màu vàng, 64G trị giá 7.200.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, Nguyễn Tấn H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng, 64G, số Imei:357223093281209. Đây là điện thoại do H trộm cắp của chị T. Cơ quan điều tra đã trả điện thoại trên cho chị T
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax số Imei: 353917103060479. Đây là điện thoại do H trộm cắp của chị M. Cơ quan điều tra đã trả điện thoại trên cho chị M.
- 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh sự việc tại quán cà phê Queen địa chỉ số 235 Vườn Lài, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú. (kèm hồ sơ vụ án)
- Tiền Việt Nam: 5.200.000 đồng. Đây số tiền do H bán điện thoại Iphone XS màu vàng, 64G, số Imei:357223093281209.
- 01 đôi dép màu trắng, H sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- 01 quần sooc Jean màu xanh, H mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- 01 áo thun cam H mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 02/PNK ngày 17/12/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú;
Về phần dân sự: chị Nguyễn Thị Trúc M, chị Trần Hoàng Hền T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì.
Anh Nguyễn Đức T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 6.000.000 đồng tiền anh T đưa cho bị cáo khi mua điện thoại nay điện thoại đã bị thu hồi trả cho bị hại
Anh Đỗ Trung H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.300.000 đồng tiền anh H đưa cho bị cáo khi mua điện thoại nay điện thoại đã bị thu hồi trả cho bị hại
Tại Bản cáo trạng số: 24/CT-VKSQTP ngày 03/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn H thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. [2] Đánh giá hành vi của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 24/10/2021 và ngày 20/11/2021, Nguyễn Tấn H đã lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, dung lượng 256G của chị Nguyễn Thị Trúc M tại quán cơm “Gà ta 67” tại địa chỉ số 374 Tân Sơn Nhì, phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú trị giá 16.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, dung lượng 64G trị giá 7.200.000 đồng của chị Trần Hoàng Huyền T tại quán cà phê Queen địa chỉ số 235 Vườn Lài, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 23.700.000 đồng thì bị bắt giữ. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.
Đối với bà Huỳnh Thị Diệu H khi bị cáo H cho số tiền 1.000.000 đồng thì không biết đây là tiền bán tài sản trộm cắp được mà có nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý hình sự. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Nguyễn Đức T và anh Đỗ Trung H khi mua điện thoại di động không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý đối với tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản hai lần vào các ngày 24/10/2021 và 20/11/2021 là thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên do đó cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Ngày 02 /11/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số: 84/2021/HSST, bị cáo kháng cáo bản án trên. Ngày 24/02/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử bị cáo y án 09 tháng tù theo Bản án số: 53/2022/HS-PT. Bị cáo có Quyết định thi hành án phạt tù ngày 26/4/2022, bị cáo chưa chấp hành hình phạt của bản án này. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp với hình phạt của bản án ngày hôm nay, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.
Về hình phạt bổ sung:
Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Tấn H
Về trách nhiệm dân sự:
Do bị hại bà Nguyễn Thị Trúc M và bà Trần Hoàng Huyền T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Đức T: yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 6.000.000 đồng mà ông đã trả cho bị cáo khi mua điện thoại Iphone 11 Promax vì hiện nay điện thoại đã được thu hồi trả cho người bị hại, do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông T là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông T số tiền 6.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu của ông Đỗ Trung H: yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.300.000 đồng mà ông đã trả cho bị cáo khi mua điện thoại Iphone XS vì hiện nay điện thoại đã được thu hồi trả cho người bị hại, do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông H là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông H số tiền 5.300.000 đồng. [6] Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng, 64G, số Imei:357223093281209. Đây là điện thoại do Huy trộm cắp của chị T. Cơ quan điều tra đã trả điện thoại trên cho chị T do đó Hội đồng xét xử không xét.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax số Imei: 353917103060479. Đây là điện thoại do H trộm cắp của chị M. Cơ quan điều tra đã trả điện thoại trên cho chị M. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với số tiền 5.200.000 đồng quá trình điều tra thu giữ của bị cáo, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án đối với số tiền bồi thường cho ông Nguyễn Đức T và ông Đỗ Trung H.
- 01 áo thun cam, 01 quần sooc Jean màu xanh và 01 đôi dép màu trắng H mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng, bị cáo H không có yêu cầu nhận lại do đó cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 đĩa DVD ghi lại hình ảnh sự việc tại quán cà phê Queen địa chỉ số 235 Vườn Lài, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú. Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án. [7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 565.000 (năm trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. [2] Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 09 (chín) tháng tù theo Bản án số: 53/2022/HS-PT ngày 24/02/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2021 Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [3] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự
Buộc bị cáo Nguyễn Tấn H có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Đức T số tiền là 6.000.000 đồng và ông Đỗ Trung H số tiền là 5.300.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun cam, 01 quần sooc Jean màu xanh và 01 đôi dép màu trắng
- Tiếp tục tạm giữ số tiền: 5.200.000 đồng để đảm bảo cho việc thi hành án đối với số tiền bồi thường cho ông Nguyễn Đức T và Đỗ Trung H.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số: 02/PNK ngày 17/12/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú).
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 565.000 (năm trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền
[6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh (1); - VKSND quận Tân Phú (3); - THADS quận Tân Phú (1); - THAHS quận Tân Phú (2); - Phòng PC53 CA Tp. HCM (1); - Nhà tạm giữ (2); - Bị cáo (1); - Bị hại (2); - Người có QLNVLQ (3) - Sở Tư Pháp (1); - Lưu: VT (1); hồ sơ vụ án (1). (20) [6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Ngọc Phượng |