- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2022/HS-ST Ngày 23-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Bảo Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Thành Theo
Ông Hoàng Đình Ngân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vương Lệ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Huỳnh Văn N, sinh năm 1990; nơi sinh: Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Hoàng M (đã chết) và bà Huỳnh Thị D; vợ: Phạm Thị Tuyết N, con: có 01 người, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28-10-2022, chuyển tạm giam từ ngày 31-10-2022, đến ngày 25-11-2022 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Văn N làm nghề chạy ghe máy đánh bắt cá trên sông Vàm Cỏ Đông, có quen biết với người tên Hùng (không rõ họ tên, địa chỉ). H gặp trực tiếp thỏa thuận với N là thuê vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ bến phà Gò Nổi thuộc xã N, huyện C chở đem về khu vực ấp G, xã N, thị xã H giao cho Hùng với tiền công mỗi chuyến là 200.000 đồng thì N đồng ý. Vào sáng ngày 28-10-2022, Hùng gặp kêu N đến chiều tối cùng ngày lên bến phà Gò Nổi để chở thuốc lá điếu nhập lậu về giao cho Hùng thì N đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, N điều khiển ghe máy của mình chạy từ nhà tại khu phố L, phường L, thị xã H trên tuyến sông Vàm Cỏ Đông lên đến tại bến phà Gò Nổi, gặp 02 người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) rồi chất 03 bao nylon, 02 túi nylon và 01 thùng giấy bên trong có chứa thuốc lá điếu nhập lậu lên ghe chạy về đến khu vực ấp T, xã T, huyện C thì bị Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp với Công an huyện C tiến hành kiểm tra bắt quả tang với tổng số lượng 4.000 bao thuốc lá, gồm 2.000 bao thuốc lá hiệu Hero, 1.500 bao thuốc lá hiệu Jet, 500 bao thuốc lá hiệu Bayon.
Ngoài ra, N còn khai nhận trước đó đã vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho Hùng được 02 lần, không xác định được số lượng và được nhận tiền công là 400.000 đồng.
Quá trình điều tra, Huỳnh Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Qua xác minh, Huỳnh Văn N không có tài sản nên không kê biên.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
- 2000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero;
- 1.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Jet;
- 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Bayon;
- 01 điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số Imel: 358246090044782, số Imei 2: 358246090044790, bên trong có gắn sim Viettel số 0974102077.
- 01 ghe nhựa (vỏ lãi) màu xanh trắng, có ghi chữ “Phúc Vinh”, dài 8,1m, rộng 1,3m, cao 0,42m, trên ghe có gắn 01 máy chạy có chân vịt, hiệu YANMAR, model 3TNE68-U2C, số máy C8788.
Tại bản Cáo trạng số: 84/CT-VKSCT ngày 25-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn N về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự, được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Về hình phạt: Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 191; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N từ 02 năm đến 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xử phạt bị cáo hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, hòa nhập xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Văn N khai nhận:
Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 28-10-2022, N thỏa thuận nhận 200.000 đồng của người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ để vận chuyển 4.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu từ bến phà G, thuộc xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh về khu vực ấp G, xã N, thị xã H, tỉnh Tây Ninh và bị bắt quả tang.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, dù biết là thuốc lá điếu nhập lậu nhưng bị cáo vẫn cố ý vận chuyển. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm e, khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đối với một số loại hàng cấm lưu thông trên thị trường, cụ thể là thuốc lá điếu nhập lậu, nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện.
Khi quyết định hình phạt, cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; đây là hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xét điều kiện được hưởng án treo của bị cáo thì thấy rằng:
Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, đây là lần đầu bị cáo phạm tội. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội; đồng thời việc cho bị cáo hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về biện pháp tư pháp:
- 4.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật;
- 01 điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số Imel: 358246090044782, số Imei 2: 358246090044790, bên trong có gắn sim Viettel số 0974102077.
- 01 ghe nhựa (vỏ lãi) màu xanh trắng, có ghi chữ “Phúc Vinh”, dài 8,1m, rộng 1,3m, cao 0,42m, trên ghe có gắn 01 máy chạy có chân vịt, hiệu YANMAR, model 3TNE68-U2C, số máy C8788 là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với người tên Hùng thuê bị cáo N vận chuyển và 02 người đàn ông giao thuốc lá điếu nhập lậu, không rõ họ tên, địa chỉ, tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với số lượng thuốc lá điếu nhập lậu đã vận chuyển giao trước đó, không xác định được định lượng nên không xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào các Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật 4.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm:
+ 2000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero;
+ 1.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Jet;
+ 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Bayon.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số Imel: 358246090044782, số Imei 2: 358246090044790, bên trong có gắn sim Viettel số 0974102077.
+ 01 ghe nhựa (vỏ lãi) màu xanh trắng, có ghi chữ “Phúc Vinh”, dài 8,1m, rộng 1,3m, cao 0,42m, trên ghe có gắn 01 máy chạy có chân vịt, hiệu YANMAR, model 3TNE68-U2C, số máy C8788.
3. Về án phí:
Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Huỳnh Văn N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - Phòng KTNV. TA tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện C; - Sở Tư pháp Tây Ninh; - Chi cục THADS huyện C; - Phòng PV 06; - Công an huyện C; - Thi hành án HS. - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hồ Thị Bảo Ngọc |