- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Kim P.
- Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 94/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29- 9 – 2022 V/v: Ly hôn, giao con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Ngọc Linh
Bà Phạm Thị Thanh Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thùy – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 134/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, giao con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim P, sinh năm 1990;( có mặt).
Trú tại: Tổ 05, ấp 04, xã Minh Tâm, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn: Anh Dương Văn N, sinh năm 1987; (Vắng mặt).
Trú tại: Tổ 05, ấp 04, xã Minh Tâm, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Kim P trình bày:
Tôi và anh Dương Văn N sau thời gian tìm hiểu tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Minh Tâm, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới; sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại ấp 4, xã Minh Tâm, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ngoài ra anh N cũng thường xuyên nhậu nhẹt, không chăm sóc lo lắng cho vợ con, mâu thuẫn kéo dài, dẫn đến vợ chồng không có hạnh phúc, đến năm 2017 thì vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm gì đến ai, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Dương Văn N để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung Dương Lê Tường V, sinh năm: 2013 và Dương Thị Linh N, sinh năm: 2015, nay ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung vì từ khi vợ chồng sống ly thân con chung do chị P nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị P không yêu cầu.
Về tài sản chung; nợ chung: Không có.
Sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án ly hôn của chị Phung, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập anh N Nều lần đến Tòa án để giải quyết vụ kiện nhưng anh N không hợp tác, không đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ việc, mặc dù đã nhận được các văn bản tố tụng hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Về nội dung: Căn sứ vào các tại liệu trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị nguyên đơn chị Lê Thị Kim P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị Kim P khởi kiện yêu cầu ly hôn với Dương Văn N, cư trú tại tổ 05, ấp 04, xã Minh Tâm, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Tòa án xác định đây là vụ án về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh N nhưng anh N không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải, tại phiên tòa hôm nay anh N cũng vắng mặt không có lý do lần thứ hai. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N theo quy định.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim P thấy rằng:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh N tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Minh Tâm, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước; hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại điều 9 và điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong quá trình giải quyết vụ án chị P xác nhận đời sống chung không hạnh phúc, do vợ chồng bất đồng quan điểm, ngoài ra anh N thường xuyên ăn nhậu nên dẫn đến vợ chồng có Nều mâu thuẫn, đến năm 2017 chị P và anh N sống ly thân, không ai quan tâm ai nữa; theo biên bản xác minh được ban ấp xác nhận vợ chồng ban ấp hiện tại anh N và chị P sống ly thân. Điều này cho thấy tình cảm giữa hai vợ chồng chị P và anh N thực sự đã mâu thuẫn trầm trọng; hơn nữa, Tòa án đã triệu tập anh N Nều lần đến tòa án để hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng anh N không lên toà để làm việc và tại phiên tòa hôm nay anh N cũng vắng mặt không có lý do, thể hiện anh N không còn quan tâm gì đến tình cảm giữa anh và chị P nên chị P yêu cầu ly hôn với anh P là có căn cứ. nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P.
[3] Về con chung: Chị P và anh N có 02 người con chung Dương Lê Tường V, sinh năm: 2013 và Dương Thị Linh N, sinh năm: 2015. Nay ly hôn chị P yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, quá trình chị P và anh N sống ly thân, các con chung do chị P nuôi dưỡng, quá trình giải quyết vụ án Toà án triệu tập anh N lên làm việc tuy Nên anh N không đến Toà để làm việc nên không biết được ý kiến của anh N. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã lấy lời khai của các con chưa thành niên, thì các con có nguyện vọng muốn được ở với mẹ, để đảm bảo quyền lợi của con chung chưa thành niên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị P cần giao 02 con chung cho chị P nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P chưa yêu cầu nên chưa xem xét.
[5] Về tài sản chung: Không có
[6] Về nợ chung: Nguyên đơn khai không nợ chung của ai cũng không cho ai vay nợ
[7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[8] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tại phiên tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2, Điểu 227; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điểu 9, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Kim P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Kim Phung được ly hôn với anh Dương Văn N (Theo giấy chứng nhận kết hôn 04/2012, quyển số 01/2012 ngày 02/02/2012 của Ủy ban nhân dân xã Minh Tâm, huyện Hớn, Quản, tỉnh Bình Phước).
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Dương Lê Tường V, sinh năm: 2013 và Dương Thị Linh N, sinh năm: 2015 cho chị Lê Thị Kim P trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị Lê Thị Kim P chưa yêu cầu nên chưa xem xét giải quyết.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đề việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi tích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền thay đổi mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ cho rằng bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.
3. Về tài sản chung : Nguyên đơn khai không có nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Lê Thị Kim P phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp theo biên lai thu số 0013829 ngày 05/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
6. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Phước - VKSND H. Hớn Quản; - Chi cục THADS H. Hớn Quản; - UBND xã Minh Tâm; - Các đương sự; - Lưu: VT,HS. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Hồ Văn Thanh |