vanban.org

Bản án 94/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 04/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Phạt bổ sung bị cáo Q số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước. Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho UBND xã LP, huyện KS, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐP
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 94/2021/HS-ST
Ngày: 04 - 11 - 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐP, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Nhật

Bà Phạm Thị Hưởng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2021/TLST- HS ngày 12 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2021/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 10 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1989; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm 9, xã LP, huyện KS, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Thiên chúa; Q tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Q1, con bà Vũ Thị H; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 25/4/2021 đến ngày 04/5/2021; tạm giam: không; danh bản, chỉ bản số 180 do Công an huyện ĐP, Thành phố Hà Nội lập ngày 05/5/2021; có mặt.

2. Nguyễn Quang M, sinh năm 2000; nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm 6, xã YL, huyện KS, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, con bà Phạm Thị T1; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 25/4/2021 đến ngày 04/5/2021; tạm giam: không; danh bản, chỉ bản số 181 do Công an huyện ĐP, Thành phố Hà Nội lập ngày 05/5/2021; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ HTP; Địa chỉ trụ sở: C15/24D tổ 9, ấp 3A, xã VL A, huyện BC, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T2, chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Sơn T3, sinh năm 1993; Địa chỉ: P1110- CT1A, khu đô thị TTĐ, xã Tân Lập, huyện ĐP, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 24/4/2021, Nguyễn Văn Q đang ở nhà thì nhận được cuộc điện thoại từ số 0962.788.678 của một người đàn ông tên Ph (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) gọi đến số điện thoại 0984.538.513 của Q để thuê vận chuyển hàng đến giao cho người mua. Sau đó, Q dùng số điện thoại 0984.538.513 gọi vào số điện thoại 0333.035.110 của Nguyễn Quang M hẹn sáng hôm sau đến nhà Q để cùng vận chuyển hàng thuê cho khách. Đến khoảng 6 giờ 30 phút ngày 25/4/2021, Q điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Isuzu màu trắng, biển kiểm soát 50H - 012.17 chở theo M đi gặp Ph ở xã TT, huyện KS, tỉnh Ninh Bình để nhận 06 thùng cát tông màu vàng. Ph nói với Q và M trong các thùng catton trên là thuốc lá điếu nhãn hiệu “555 Gold” do nước ngoài sản xuất nhưng không đưa cho Q và M giấy tờ gì liên quan đến số thuốc lá trên. Ph bảo Q khi đến khu vực ngã tư thị trấn TTr, huyện HĐ, thành phố Hà Nội thì liên lạc với số điện thoại 0879.250.629 của người nhận hàng để giao số thuốc lá điếu trên, khi xong việc sẽ được trả tiền công là 500.000 đồng. Sau đó, Q điều khiển xe ô tô cùng với M chở số thuốc lá đến khu vực thị trấn TTr, huyện HĐ, thành phố Hà Nội thì Q gọi vào số điện thoại Ph cung cấp trước đó để gọi người đến nhận. Người nhận hàng nói giọng nam giới hẹn Q giao hàng tại khu đô thị TTĐ, xã Tân Lập, huyện ĐP, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, Q dừng xe trước cửa số 30 dãy LK2, khu đô thị TTĐ, xã Tân Lập, huyện ĐP, thành phố Hà Nội để giao cho khách, người này yêu cầu được mở hàng để kiểm tra. Trong lúc, Q và M đang mở các thùng thuốc lá ra để khách kiểm tra thì lực lượng Công an huyện ĐP bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 2.990 bao thuốc lá màu xanh, nhãn hiệu “555 Gold” được đựng trong 06 thùng cát tông bằng giấy (trong đó có 05 thùng mỗi thùng chứa 50 tuýp và 01 thùng chứa bên trong là 49 tuýp, trong mỗi tuýp thuốc lá là 10 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 Gold vỏ màu xanh, loại 20 điếu); 01 xe ô tô tải nhãn hiệu Isuzu màu trắng, biển kiểm soát 50H - 012.17; 01 điện thoại di động Iphone 7plus màu đen lắp số thuê bao 0984.538.513 của Nguyễn Văn Q; 01 giấy đăng ký xe ô tô; 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn Q và 01 điện thoại di dộng Iphone màu trắng - bạc lắp số 0333.035.110 của Nguyễn Quang M. Quá trình bắt giữ Q, M thì người đến nhận hàng đã chạy thoát.

Tại kết luận giám định số 3592/KLGĐ-PC09 ngày 05/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: 2990 bao thuốc lá màu xanh nhãn hiệu “555 Gold” (mỗi bao có 20 điếu) đều là thuốc lá do nước ngoài sản xuất.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn Q khai: Q làm nghề vận chuyển hàng hóa thuê. Khi Q nhận được điện thoại của người đàn ông tự xưng là Ph hẹn ngày hôm sau đến chở hàng thuê cho Ph thì Q gọi M là phụ xe của Q đi cùng để nhận hàng. Khi gặp Ph tại điểm nhận hàng, Ph đã giao cho Q 6 thùng các tông và nói bên trong là thuốc lá loại 555 của ngoại nhưng Ph không đưa cho Q giấy tờ gì liên quan đến số thuốc lá đó. Ph còn đưa cho Q số điện thoại của người nhận hàng để liên lạc và bảo đi đến thị trấn Tr, huyện HĐ thì gọi để hẹn chỗ giao hàng. Đây cũng là lần đầu tiên Q được Ph thuê chở hàng, trước đó hai người không quen biết nhau. Tiền công hai bên thống nhất là 500.000 đồng, Ph sẽ trả khi Q giao hàng xong. Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Isuzu màu trắng, biển kiểm soát 50H - 012.17 là của Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ HTP do anh trai của bị cáo là Giám đốc công ty cho bị cáo mượn.

Nguyễn Quang M khai: M làm phụ xe thuê cho Q, mỗi chuyến hàng Q sẽ trả công cho M 200.000 đồng. Ngày 25/4/2021, khi Q gọi đi giao hàng thì M đi cùng Q. Khi đến nhận hàng, M có nghe được Ph nói với Q hàng trong 6 thùng các tông đều là thuốc lá điếu loại 555 của ngoại. M biết đó là hàng cấm. Sau đó cả hai đi đến ĐP để chuyển hàng cho người nhận nhưng khi cả hai đang kiểm tra hàng thì bị lực lượng công phát hiện bắt giữ.

Cơ quan điều tra đã thu giữ điện tín Tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel xác định thuê bao 0962.788.678 của chủ thuê bao là Lương Hữu Ph, sinh ngày 18/10/1985 ở xã TT, huyện KS, tỉnh Ninh Bình. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an huyện ĐP đã ủy thác điều tra nhưng Ph không có mặt ở địa phương, không rõ hiện đang ở đâu. Đối với số thuê bao 0879.250.629 của người nhận hàng, Tập đoàn Bưu chính Viện thông Việt Nam (VNPT) cung cấp số thuê bao trên không thuộc quản lý của tập đoàn. Do thời hạn điều tra đã hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐP đã tách rút tài liệu liên quan đến người tên Ph và người mua thuốc lá để tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Bản Cáo trạng số 85/CT-VKS-ĐP ngày 03 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Văn Q và Nguyễn Quang M về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Các bị cáo đều khai biết việc vận chuyển hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn nhận được tiền công nên vẫn đồng ý vận chuyển đến cho người nhận. Các bị cáo cũng khẳng định không biết gì về việc người tên Ph thỏa thuận mua bán thuốc lá ngoại với người khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP, Thành phố Hà Nội tại phiên tòa trình bày lời luận tội, giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội “Vận chuyển hàng cấm” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn Q từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng; Phạt bổ sung đối với bị cáo Q số tiền từ 10- 15 triệu đồng. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Quang M từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo M. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 2.400 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 Gold còn lại sau giám định. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7plus màu đen lắp số thuê bao 0984.538.513 của Nguyễn Văn Q; Trả lại Nguyễn Quang M 01 điện thoại di động Iphone màu trắng bạc lắp số 0333.035.110.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vụ án xảy ra tại địa bàn huyện ĐP, Thành phố Hà Nội nên thẩm quyền khởi tố điều tra, truy tố và xét xử thuộc các cơ quan tố tụng của huyện ĐP, Thành phố Hà Nội. Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP đã thực hiện trình tự tố tụng, nội dung ban hành các văn bản và quyết định tố tụng theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Q và Nguyễn Quang khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Nguyễn Văn Q và Nguyễn Quang M làm nghề vận chuyển hàng hóa thuê. Tối ngày 24/4/2021, Q nhận được điện thoại từ số thuê bao 0962.788.678 của một người đàn ông tự xưng là Ph gọi đến nhờ hôm sau vận chuyển hàng đi giao cho khách. Q gọi cho M là phụ xe bảo đi giao hàng cùng. Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 25/4/2021, Q điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Isuzu màu trắng, biển kiểm soát 50H - 012.17 chở theo M đi gặp Ph ở xã TT, huyện KS, tỉnh Ninh Bình để nhận hàng đem đi giao. Tại đây Q và M nhận 06 thùng cát tông bên trong có 2990 bao thuốc điếu nhãn hiệu “555 Gold” do nước ngoài sản xuất, không có tem mác nhập khẩu Việt Nam để mang đến khu đô thị TTĐ, xã TL, huyện ĐP giao cho người nhận có số điện thoại 0879.250.629. Hai bên thỏa thuận sau khi giao hàng xong Ph sẽ trả Q 500.000 đồng tiền công. Do hám lợi nên mặc dù biết hàng mà Ph thuê vận chuyển là thuốc lá ngoại nhập lậu nhưng Q và M vẫn đồng ý vận chuyển đến điểm giao hàng theo yêu cầu của Ph. Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, Q và M đi đến trước cửa số 30 dãy LK2, khu đô thị TTĐ, xã TL, huyện ĐP. Khi cả hai đang đang mở các thùng các tông đựng thuốc lá ra để cho người nhận kiểm tra thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Người nhận hàng đã bỏ chạy thoát.

Hành vi của Nguyễn Văn Q và Nguyễn Quang M dùng xe ô tô vận chuyển 2990 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 Gold từ xã TT, huyện KS, tỉnh Ninh Bình đến khu đô thị TTĐ, xã TL cho người nhận mặc dù biết rõ số thuốc lá đó do nước ngoài sản xuất không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ, để nhằm mục đích nhận tiền công như nêu trên đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐP truy tố các bị cáo về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Trong những năm gần đây, thuốc lá ngày càng thu hút sự quan tâm của công chúng bởi sự tác hại và nguy cơ ghê gớm của nó trên phạm vi toàn cầu. Thuốc lá gây nghiện, do đó không chỉ gây tổn hại nặng nề cho sức khoẻ cộng đồng mà còn dẫn đến những thiệt hại to lớn về kinh tế. Do vậy, để kiểm soát thuốc lá, Nhà nước ta đã ban hành các quy định, điều kiện chặt chẽ đối với việc sản xuất, nhập khẩu thuốc lá các loại. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trật tự quản lý đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện trong phạm vi lãnh thổ nước ta. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm đối với các bị cáo để giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật của các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Đánh giá vị trí vai trò của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, trong đó Q giữ vai trò chính, là người trực tiếp thỏa thuận việc vận chuyển, tiền công, trực tiếp liên lạc với người nhận hàng để giao hàng, phương tiện chở hàng cũng là của Q. Mặc dù biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vì ham lợi nên bị cáo vẫn cố tình vận chuyển một số lượng tương đối lớn thuốc lá ngoại nhập lậu. Do vậy, phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cân nhắc thấy bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo được chấp hành hình phạt tại địa phương nơi cư trú, để bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình để bị cáo có cơ hội tự cải tạo, tự sửa chữa bản thân thành công dân tốt. Ngoài ra, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự để thể hiện sự răn đe nghiêm khắc đối với bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Quang M đóng vai trò thứ yếu trong vụ án. M là người làm công ăn lương do Q thuê làm việc theo yêu cầu của Q đi theo xe để phụ giúp. Bị cáo M phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo cũng có thời gian tham gia quân đội. Do đó, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo, xét bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định nên Hội đồng xét xử cũng quyết định phạt tù đối với bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của địa phương nơi cư trú, cho bị cáo có cơ hội tự cải tạo bản thân trở thành công dân tốt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Xét bị cáo là người làm công ăn lương, thu nhập thấp, không ổn định, không có điều kiện về kinh tế để đảm bảo cho việc thi hành án nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Minh.

Đối với người đàn ông tên là Lương Hữu Ph, sinh ngày 18/10/1985 ở xã TT, huyện KS, tỉnh Ninh Bình, được cho là có thể là người đã thuê các bị cáo vận chuyển 2990 bao thuốc lá 555 Gold nói trên. Cơ quan điều tra đã triệu tập Ph nhưng Ph không có mặt ở nhà, không rõ hiện đang ở đâu. Đối với người đàn ông là chủ số thuê bao 0879.250.629 mà Q liên lạc để giao hàng, cơ quan điều tra cũng đã xác minh, Tập đoàn Bưu chính Viện thông Việt Nam (VNPT) cung cấp số thuê bao trên không thuộc quản lý của tập đoàn. Do thời hạn điều tra đã hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐP đã tách rút tài liệu liên quan đến người tên Ph và người mua thuốc lá để làm rõ và xử lý sau là đúng.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Isuzu màu trắng, biển kiểm soát 50H - 012.17 Q sử dụng để vận chuyển hàng cấm là của Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ HTP do ông Hoàng Văn T2 là giám đốc. Ông T2 cho Q mượn xe nhưng không biết Q sử dụng để vận chuyển hàng cấm nên Cơ quan điều tra không xử lý ông T2 và đã trả lại xe cho Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ HTP là có căn cứ, đúng pháp luật.

Một giấy phép lái xe số AS 997949 mang tên Nguyễn Văn Q là giấy tờ tùy thân của Q, cơ quan điều tra trả cho Q là đúng.

2.990 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 Gold do lực lượng công an thu giữ đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội thu 599 bao để làm mẫu giám định, sau khi giám định đã hết. Số 2.400 bao thuốc lá còn lại Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ đang lưu trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐP, đã được niêm phong theo quy định, là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.

Chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen lắp số thuê bao 0984.538.513 thu giữ của Nguyễn Văn Q dùng để liên lạc để hẹn giao hàng với người nhận là phương tiện phạm tội sẽ bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng bạc lắp số thuê bao 0333.035.110 thu giữ của Nguyễn Quang M không liên quan đến việc phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo Minh.

Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Phạt bổ sung bị cáo Q số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho UBND xã LP, huyện KS, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang M 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Giao bị cáo Nguyễn Quang M cho UBND xã YL, huyện KS, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 2.400 bao thuốc lá còn lại sau giám định. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động Iphone7 plus màu đen lắp số thuê bao 0984.538.513 của Nguyễn Văn Q. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang M chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng bạc lắp số thuê bao 0333.035.110. (Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐP, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2021 giữa Công an huyện ĐP với Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐP).

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

- Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ