- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạ…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 304 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2021/HS-PT Ngày: 02/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Võ Việt Minh
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Văn Quản
Ông Nguyễn Hồng Thái
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Việt Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh B, xét xử phúc thẩm, công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 82/2021/TLPT-HS ngày 07 tháng 9 năm 2021, do Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2021/HS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện H có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2021/QĐXXPT-HS ngày 19 tháng 10 năm 2021, đối với bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn H, sinh năm 1989; tên gọi khác: Cu Ba; giới tính: nam; nơi sinh: B, nơi cư trú: Tổ 6, thôn Dân Phú, xã Hàm Kiệm, huyện H, tỉnh B; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Nguyễn T và bà Dương Thị Ngọc T; vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 06/2014/HSST ngày 10/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện H, tuyên phạt Nguyễn H 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án, đương nhiên được xóa án tích; Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cư trú từ ngày 11/3/2021 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1/ Ông Trần Ngọc S – sinh năm 1983; trú tại: thôn Phú Cường, xã Hàm Cường, huyện H, tỉnh B (vắng mặt)
2/ Ông Phạm Minh H – sinh năm 1993; trú tại: thôn Phú Cường, xã Hàm Cường, huyện H, tỉnh B (vắng mặt)
3/ Ông Trần Đình K – sinh năm 1958; trú tại: thôn Phú Cường, xã Hàm Cường, huyện H, tỉnh B (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn H thường xuyên sinh sống trong khu vực nghĩa trang Giáo xứ Vinh An, thuộc thôn Phú Cường, xã Hàm Cường, huyện H. Trong khoảng thời gian từ tháng 08 đến tháng 11 năm 2020, H mua 02 quả đạn M79 của một nhóm trẻ thường hay chơi tại khu vực Nhà Giáo lý của Giáo xứ Vinh An với giá 170.000 đồng (theo lời khai của H) về cất giữ tại vườn bạch đàn, cách mộ ông Trương Bá C (sinh năm 1943, nguyên quán Quỳnh Lưu, Nghệ An) 24,80m và cách mộ ông Lê Văn N (sinh năm 1972, nguyên quán Hàm Mỹ, H) 73m trong Nghĩa trang Giáo xứ Vinh An.
Khoảng 08 giờ sáng ngày 19/11/2020, ông Trần Ngọc S (sinh năm 1983, trú thuộc thôn Phú Cường, xã Hàm Cường, huyện H) đi ra vườn thanh long của mình bên cạnh Giáo xứ Vinh An thì gặp H cùng Phạm Minh H (tên thường gọi là T/M, sinh năm 1993, trú tại xã Hàm Cường, huyện H) đang câu cá. Khi nghe ông S nhắc đến việc bắn chim thì H khoe với ông S rằng H có 02 quả đạn đang cất tại vườn bạch đàn trong khu vực nghĩa trang giáo xứ Vinh An. H đi về vị trí cất giữ và lấy 02 quả đạn bỏ trong 01 chiếc rổ màu đỏ cùng 01 chiếc búa dài khoảng 30cm dùng để đóng ghế ngồi rồi mang qua vườn thanh long cho ông S và Hậu xem. Nghi ngờ là đạn M79, có thể phát nổ nên ông S nói H mang về lại vườn bạch đàn cất, nhằm mục đích kiểm tra ngoài 02 viên đạn này thì H có cất giữ viên đạn nào khác hay không. Trên đường về lại nơi cất giữ 02 quả đạn thì H và ông S gặp ông Trần Đình K (sinh năm 1958, trú thôn Phú Cường, xã Hàm Cường, huyện H) là quản lý của nghĩa trang đang đào huyệt. H cầm 02 viên đạn đưa cho ông K xem và hỏi ông K có biết đây là đạn gì không do ông K có con trai là Cán bộ Công an huyện H nhưng ông K từ chối. Tại đây, H cùng ông S sử dụng băng keo đen quấn quanh 02 quả đạn để dính lại với nhau để tránh 02 quả đạn phát nổ. Sau đó H cất 02 quả đạn trong túi quần và đi ra quán nước trước nghĩa trang Giáo xứ ngồi.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày 19/11/2020, ông S quay lại quán nước gặp H và nói H đưa 02 quả đạn cho ông S để báo cơ quan chức năng. H giao 02 quả đạn cho ông S thì ông S cầm 02 quả đạn ra đặt tại bãi cỏ cách QL1A khoảng 50m rồi nhờ ông Nguyễn Xuân Nghi (sinh năm 1978, trú thôn Phú Lộc, xã Hàm Cường, huyện H) và ông Huỳnh Nhật T (sinh năm 1998, trú thôn Phú Thọ, xã Hàm Cường, huyện H) báo Công an xã Hàm Cường. Đến 12 giờ ngày 19/11/2020, Công an xã Hàm Cường đến vị trí ông S để 02 quả đạn, lập biên bản ghi nhận và thu giữ và niêm phong 02 quả đạn có đặc điểm vỏ bằng loại màu trắng, đỉnh đầu bằng phẳng, chiều dài 10cm, đáy bằng phẳng, đường kính đáy 4,2cm.
Theo Kết luận giám định số 6055/C09B ngày 08/12/2020 của Phân viện Khoa học hình sự, Bộ Công an kết luận:02 vật thể có hình viên đạn cùng kích thước và đặc điểm: vỏ bằng kim loại, màu trắng xám, đỉnh đầu bằng phẳng; chiều dài 10cm, đáy bằng phẳng, đường kính đáy 4,2cm; tâm có điểm kích nổ là vũ khí quân dụng, thuộc loại đạn cỡ (40x46)mm, sử dụng cho súng phóng lựu M79. Súng phóng lựu có tầm bắn hiệu quả trong khoảng cách 350m.
Tại Công văn số 21/KT-QK ngày 06/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh B xác định: đạn M79 thuộc nhóm đạn súng bộ binh, dùng cho súng phóng lựu 40mm M79.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2021/HS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện H đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn H, phạm tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án
Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự, các Điều 63, 64, 66 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ:
Tịch thu tiêu hủy 02 viên đạn có kích thước dài 10cm, đáy bằng phẳng, đường kính đáy 4,2cm là vũ khí quân dụng. Trả lại cho bị cáo 01 cây búa thân bằng gỗ, dài 30cm (tất cả vật chứng hiện đang được bảo quản tại cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo.
Ngày 19 tháng 7 năm 2021, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo rút kháng cáo xin hưởng án treo, giữ nguyên kháng cáo giảm nhẹ hình phạt.
- Ý kiến của Kiểm sát viên: Án sơ thẩm xét xử bị cáo đúng tội danh. Tuy nhiên mức hình phạt 18 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng với bị cáo là nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù qua đó xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo khai báo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng tháng 8/2020 đến tháng 11/2020, Nguyễn H đã có hành vi cất giữ trái phép 02 quả đạn M79 là vũ khí quân dụng tại vườn bạch đàn trong nghĩa trang Giáo xứ Vinh An, thuộc thôn Phú Cường, xã Hàm Cường, huyện H, đến ngày 19/11/2020 thì bị phát hiện, thu giữ.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách của nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Mặc dù khối lượng vũ khí mà bị cáo tàng trữ không lớn, tuy nhiên đạn M79 là loại vũ khí khi nổ có thể văng ra hơn 300 mảnh vụn với vận tốc 1524 m/s, với bán kính sát thương là 5 mét nên mức độ nguy hiểm của loại vũ khí này là rất lớn; bên cạnh đó, bị cáo đã từng bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích” nên việc truy cứu trách nhiệm hình sự và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự là đúng, không oan.
Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt thấy rằng: Khi thấy một số trẻ em dùng 02 quả đạn M79 này làm đồ chơi, bị cáo đã bỏ tiền ra mua lại qua đó cũng đã góp phần giảm bớt nguy hiểm cho cộng đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã trình bày rõ hành vi phạm, thừa nhận tội lỗi và thể hiện sự ăn năn, hối cải. Cho nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp
Xét kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo: Bị cáo đã từng bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích”. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận sau khi nộp đơn kháng cáo, bị cáo lại tiếp tục bị khởi tố và bắt tạm giam về một tội phạm mới do cố ý nên rút kháng cáo xin được hưởng án treo. Điều đó chứng tỏ bị cáo thuộc trường hợp khó cải tạo và không đủ điều kiện để được hưởng án treo.
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2021/HS-ST, ngày 06 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện H.
2. Áp dụng: khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
3. Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
4. Xử phạt bị cáo Nguyễn H 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
5. Về án phí: bị cáo Nguyễn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2021/HS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện H không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh B; - VKS, CA, TA, THA huyện H; - Sở tư pháp tỉnh B; - Bị cáo; - PV06 - Công an tỉnh B; - Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP, Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Việt Minh |