- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2021/HNGĐ-ST Ngày:14/6/2021 V/v tranh chấp “Xin ly hôn, Nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Ứng
2. Ông Phan Trọng Nhân
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Anh Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông không tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 03 năm 2021 về tranh chấp“Xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2021/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Huỳnh Thị Kim C- Sinh năm: 1984 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang;
2. Bị đơn: Trần Thanh S - Sinh năm: 1977 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim C trình bày:
Chị và anh S tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức cưới, đăng ký kết hôn ngày 08/6/2011 tại UBND xã T, huyện T. Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp tính tình nên thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn kéo dài đến tháng 11 năm 2020 thì trầm trọng do không hàn gắn được nên chị và anh S sống ly thân. Nay tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: có 01 con chung tên Trần Thanh H, sinh ngày 26/9/2014. Hiện cháu H đang sống với chị, chị yêu cầu nuôi cháu H, yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 750.000 đồng.
Về tài sản chung, nợ chung: chị xác định không có.
* Quá trình tố tụng bị đơn anh Trần Thanh S đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh S không đến Tòa án để tham dự phiên hòa giải, không tham dự phiên tòa, không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, chị Huỳnh Thị Kim C có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: đây là vụ án tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị C về việc xin ly hôn, nuôi con chung; Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: chị C và anh S có quan hệ hôn nhân với nhau, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/6/2011 nên quan hệ hôn nhân của chị C và anh S là hợp pháp kể từ ngày đăng ký kết hôn.
Theo lời trình bày của chị C, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình, anh S không quan tâm đến gia đình nên xảy ra mâu thuẫn thời gian dài và không thể hàn gắn tình cảm được nữa.
Hội đồng xét xử thấy rằng, thực tế cuộc sống vợ chồng giữa chị C và anh S đã có mâu thuẫn, anh chị đã sống ly thân. Từ khi ly thân đến nay anh chị cũng không trao đổi hàn gắn tình cảm. Anh S không tham dự phiên hòa giải, không tham dự phiên tòa để được hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó, cho thấy anh S cũng không tha thiết đến cuộc hôn nhân với chị C. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: chị C trình bày, anh chị có 01 con chung tên Trần Thanh H, sinh ngày 26/9/2014. Hiện cháu H đang do chị C trực tiếp nuôi. Ly hôn, chị C yêu cầu nuôi con. Xét thấy cháu H đang do chị C trực tiếp nuôi và phát triển bình thường; anh S chưa có ý kiến về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu H cho chị C tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị C yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 750.000 đồng. Anh S chưa có ý kiến về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và mức cấp dưỡng mà chị C yêu cầu là không cao. Do vậy, chấp nhận yêu cầu của chị C về mức cấp dưỡng nuôi con, buộc anh S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 750.000 đồng, thực hiện khi án có hiệu lực cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về tài sản chung và nợ chung: chị C trình bày anh chị không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: chị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình, Anh S phải chịu án phí do có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Kim C.
1. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Huỳnh Thị Kim C được ly hôn với anh Trần Thanh Sơn.
2. Về nuôi con chung:
- Chị Huỳnh Thị Kim C được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Thanh H, sinh ngày 26/9/2014.
- Về cấp dưỡng nuôi con: anh S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Thanh H mỗi tháng 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
- Anh S được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị Châu và các thành viên trong gia đình chị C không được ngăn cản.
3. Về án phí: Chị C phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 49702 ngày 10/03/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông. Chị C đã nộp xong án phí.
Anh S phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Huỳnh Thị Kim C, anh Trần Thanh S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện TPĐ; - Chi cục THADS huyện TPĐ; - Các đương sự; - UBND xã T, huyện T; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Văn Lắm |