- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Gia L phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Gia L phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2020/HS-ST Ngày 23-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hứa Thị Thanh Xuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Thế Hiên;
Bà Hoàng Thị Mơ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đình Sắc, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thu Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Gia L, sinh ngày 07 tháng 10 năm 1976 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 138, đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Số 71, đường Minh Khai, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Gia K (đã chết), con bà Lý Kiều M, sinh năm 1947; vợ: Triệu Thu H, sinh năm 1982 (đã ly hôn), con: Có 01 con sinh năm 2007; tiền án: Có 01 tiền án (Bản án số 41/2016/HSPT ngày 12/7/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích); tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 79 ngày 29/01/1997 của Toà phúc thẩm tại Hà Nội - Toà án nhân dân Tối cao đã xử phạt 16 năm tù về tội “Giết người”; ngày 11/6/2012, bị Chủ tịch UBND thành phố L quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/3/2020 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Chị Vũ Thị Thu T; địa chỉ: Số 34A, đường H, phường H, thành phố L. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hà Tấn Đ; địa chỉ: Ngõ 1, đường T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 12/3/2020, chị Vũ Thị Thu T để chiếc xe đạp điện nhãn hiệu PEGA CAP A3 màu trắng đen, không khoá cổ trước cửa nhà chị tại số 34A, đường H, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Đến khoảng 20 giờ thì chị Vũ Thị Thu T phát hiện xe đã bị mất nên đã trình báo Cơ quan Công an giải quyết. Ngày 13/3/2020, Cơ quan điều tra đã bắt giữ Lê Gia L và thu giữ tài sản có liên quan.
Tại Biên bản định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 30/ĐGTSTT ngày 14/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự kết luận: Giá trị của chiếc xe đạp điện nhãn hiệu PEGA CAP A3 màu trắng đen trị giá 6.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Điều tra, bị cáo Lê Gia L khai: Khoảng 20 giờ ngày 12/3/2020 bị cáo đi qua số nhà 34A, đường H, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn nhìn thấy 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu PEGA CAP A3 màu trắng – đen dựng trước cửa nhà. Do không có tiền tiêu xài nên Lê Gia L đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe đạp trên. Quan sát không có ai trông giữ xe, Lê Gia L đã lén lút dắt chiếc xe đạp điện ra đường H rồi lên xe đạp điều khiển về khu phòng trọ tại ngõ 7, đường B, phường H, thành phố L cất giấu. Đến tối ngày 13/3/2020, Hà Tấn Đ đến khu trọ chơi. Lê Gia L đã nhờ Hà Tấn Đ điều khiển chiếc xe đạp điện đi theo xe mô tô bị cáo điều khiển để đi cầm cố. Hà Tấn Đ điều khiển xe đạp điện đi theo xe mô tô Honda Zuken Dream do Lê Gia L điều khiển. Khi đến ngã tư Bà Triệu – Trần Phú, phường H, thành phố L thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.
Chị Vũ Thị Thu T khai: Sau khi phát hiện bị mất xe đạp điện chị đã trình báo Công an giải quyết. Cơ quan điều tra đã thu hồi được xe trả lại cho chị nên chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hà Tấn Đ khai: Khoảng 20 giờ ngày 13/3/2020, anh đến khu trọ của Lê Gia L chơi và đã nhận lời điều khiển chiếc xe đạp điện đi theo xe mô tô do Lê Gia L điều khiển để đi cầm cố. Anh không biết chiếc xe đạp điện do đâu mà Lê Gia L có. Trên đường mang xe đi cầm cố đến ngã tư B – T, phường H, thành phố L thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ xe.
Tại Cáo trạng số 94/CT-VKS, ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lê Gia L về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày tại Cơ quan Điều tra, thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố.
Bị hại chị Vũ Thị Thu T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hà Tấn Đ đều vắng mặt tại phiên tòa, đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và không có yêu cầu gì.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn luận tội: Bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là chiếc xe đạp điện nhãn hiệu PEGA CAP A3 màu trắng đen của chị Vũ Thị Thu T trị giá 6.000.000 đồng. Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, mẹ bị cáo là bà Lý Kiều M được Nhà nước tặng Huân chương. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giam 14/3/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập xem xét giải quyết. Về vật chứng: Xác nhận Cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe đạp điện nhãn hiệu PEGA CAP A3 màu trắng – đen cho chị Vũ Thị Thu T; đề nghị trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia RM 975 màu đen gắn kèm sim; đối với chiếc xe máy Honda Zuken Dream, anh Nguyễn Quang B gửi bị cáo, qua xác minh chiếc xe này đã được mua bán qua nhiều người chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan Điều tra tiếp tục tiến hành xác minh làm rõ xử lý sau. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo Lê Gia L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại Cơ quan Điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Qua đó Hội đồng xét xử thấy, khoảng 20 giờ ngày 12/3/2020, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu PEGA CAP A3 của chị Vũ Thị Thu T có giá trị 6.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Gia L phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong trong quần chúng nhân dân.
Để quyết định hình phạt đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án: Tại Bản án số 41/2016/HSPT ngày 12/7/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, chưa được xóa án tích, do đó lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, mẹ bị cáo là bà Lý Kiều M được Nhà nước tặng Huân chương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Tại bản án số 79 ngày 29/01/1997 của Toà phúc thẩm tại Hà Nội, Toà án nhân dân Tối cao đã xử phạt Lê Gia L 16 năm tù về tội “Giết người”; ngày 11/6/2012, bị Chủ tịch UBND thành phố L, tỉnh Lạng Sơn quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, tuy bị cáo đã được xóa án tích, xóa tiền sự nhưng xác định bị cáo có nhân thân xấu.
Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, xét thấy, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo kết quả xác minh tại nơi cư trú của bị cáo cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại chị Vũ Thị Thu T đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập xem xét giải quyết.
Về vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia RM 975 màu đen gắn kèm sim do không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo. Xác nhận Cơ quan điều tra đã trả lại 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu PEGA CAP A3 cho chị Vũ Thị Thu T. Đối với chiếc xe máy Honda Zuken Dream, do chưa xác minh được chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách hồ sơ tiếp tục tiến hành xác minh làm rõ xử lý sau.
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố L về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Gia L phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Gia L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt tạm giam 14/3/2020.
3. Về vật chứng: Trả lại bị cáo Lê Gia L 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Nokia RM 975 màu đen, số IMEI 354239060316631 có gắn kèm sim.
(Vật chứng nêu trên được ghi chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/5/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Gia L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP. Lạng Sơn, T. Lạng Sơn; - Công an TP. Lạng Sơn, T. lạng Sơn; - CCTHADS TP. Lạng Sơn, T. Lạng Sơn; - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Thị Thanh Xuyến |