- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2020/HS-ST Ngày: 10 - 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Khúc Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thúy Kiên
2. Bà Thái Ánh Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2020/HSST ngày 20 tháng 8 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2020/HSST-QĐXX ngày 27 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1977; ĐKTT: ấp A, xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An; chỗ ở hiện nay: ấp C, xã D, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B (chết) và bà Lê Thị Ngọc T1 (chết); Bị cáo có 03 người em ruột, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1993; vợ: Phạm Thị Thu B, sinh năm 1979; có 02 người con: lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền sự: không; tiền án: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/6/2020 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Người bị hại: Công Ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu X
Địa chỉ: khu vực E , phường F, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo pháp luật của công ty: bà Hồ Thị Kim L, sinh năm 1976, vắng mặt
Chức danh: Giám đốc
Đại diện tham gia tố tụng: bà Nguyễn Thị Kim H (Mai), sinh năm 1957, có mặt
ĐKTT: khu vực G, phường H, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở hiện nay: khu vực I, phường K, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ngô Tấn L, sinh năm 1966, có mặt
Nơi cư trú: khu vực M, xã N, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Người làm chứng:
1. Văn Tấn N, sinh năm 1988, có mặt
Nơi cư trú: khu vực O , phường P, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
2. Mai Chí C (Tr), sinh năm 1988, có mặt
Nơi cư trú: khu vực Q, phường L, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
3. Phạm Thị Thu B (H), sinh năm 1979, có mặt
Nơi cư trú: khu vực M, xã N, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn T là người làm thuê chạy ghe chở lúa, gạo, tấm cho Công Ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu X có trụ sở chính tại khu vực E, phường F, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ do chị Hồ Thị Kim L làm Giám đốc.
Vào khoảng 13 giờ ngày 04/4/2020, chị Nguyễn Thị Kim H (mẹ ruột L) đang là quản lý của công ty X, phân công T chạy ghe chở lúa loại 5451 đã sấy khô từ kho lúa số 5 tại phường T, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đến kho lúa số 4 của công ty tại xã V, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Sau khi cho ghe nhận lúa xong, T cùng vợ là Phạm Thị Thu B chạy ghe chở lúa lưu thông trên sông Hậu theo hướng từ Thuận Hưng về Vĩnh Bình theo sự phân công của chị Hoa nhưng khi ghe chạy đến đoạn sông thuộc khu vực TA3, phường TA, quận Thốt Nốt thì T đã dừng ghe lại lấy 900kg lúa đang chở trên ghe bán cho 01 người đàn ông và 01 phụ nữ trên 01 ghe khác (chưa rõ nhân thân địa chỉ) với giá 5.500đ/kg được số tiền là 4.950.000đ, lúc này chị Thu B phát hiện đã can ngăn không cho T lấy trộm lúa bán nhưng T vẫn kiên quyết bán.
Ngoài ra, quá trình điều tra T còn khai nhận: vào ngày 21/7/2019, trong quá trình điều khiển ghe chở tấm cho công ty, T làm mất 5 bao tấm có khối lượng 250kg của công ty, có giá 2.000.000đ.
Tại kết luận định giá tài sản số 34/BKL-HĐĐGTS ngày 11/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt kết luận 900kg lúa loại 5451 đã sấy khô có giá 6.210.000đ.
Trong quá trình điều tra, Trần Văn T đã giao nộp số tiền 8.210.000đ trị giá lúa đã lấy trộm và số tấm đã làm mất của công ty. Đại diện Công Ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu X trình bày đã nhiều lần bị mất trộm lúa, gạo, tấm khi giao ghe cho T vận chuyển và yêu cầu làm rõ, tuy nhiên công ty không cung cấp được chứng cứ nên chưa có cơ sở để xem xét giải quyết.
Tại bản Cáo trạng số 95/CT-VKSTN ngày 18 tháng 8 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, truy tố bị cáo Trần Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng: điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền 8.210.000đ bồi thường thiệt hại, trong đó 6.210.000đ dùng bồi thường cho 900kg lúa đã lấy trộm và 2.000.000đ bồi thường 5 bao tấm đã làm mất. Đại diện bị hại đồng ý nhận.
Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị lưu hồ sơ 02 quyển tập học sinh.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thốt Nốt, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Trần Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra và qua thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn T đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015. Như vậy, Cáo trạng số 95/CT-VKSTN ngày 18 tháng 8 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người làm công cho bị hại, được giao ghe chở lúa, có trả tiền công. Trong ngày 04/4/2020 bị cáo được phân công chạy ghe chở lúa loại 5451 đã sấy khô từ kho lúa số 5 tại phường Th, quận Thốt Nốt, đến kho lúa số 4 của công ty tại xã V, huyện Vĩnh Thạnh, sau khi nhận lúa xong, bị cáo chạy ghe chở lúa lưu thông trên sông Hậu theo hướng từ Thuận Hưng về Vĩnh Bình, lợi dụng sự quản lý sơ hở về tài sản của bị hại và để trốn tránh sự phát hiện của bị hại, bị cáo đã cho ghe lúa dừng neo đậu ở giữa sông lén lút lấy 900kg lúa đang chở trên ghe bỏ mặc sự can ngăn của vợ bị cáo, bán cho 01 người đàn ông và 01 phụ nữ trên 01 ghe khác với giá 5.500đ/kg được số tiền là 4.950.000đ. Tổng tài sản bị cáo trộm trị giá 6.210.000đ (theo Kết luận định giá tài sản số: 34/BKL-HĐĐGTS ngày 11/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Thốt).
Khi thực hiện hành vi phạm tôi, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham và ham muốn bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử nghĩ cần tuyên phạt bị cáo mức án nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả của bị cáo đã gây ra, tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian tu rèn đạo đức, từ bỏ được bản tính tham lam biết lao động chân chính, sống phục thiện thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Ngoài ra, bị cáo còn thừa nhận trong thời gian chạy ghe thuê cho bị hại đã làm mất 05 bao tấm trị giá 2.000.000đ vào ngày 21/7/2019, tuy nhiên việc làm mất này không cấu thành tội trộm, chỉ làm căn cứ xác định bồi thường trách nhiệm dân sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: miễn cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 8.210.000đ bồi thường thiệt hại, trong đó 6.210.000đ dùng bồi thường cho 900kg lúa bị cáo trộm và 2.000.000đ bồi thường 5 bao tấm đã làm mất vào ngày 21/7/2019, đại diện bị hại đồng ý nhận. Nghĩ nên công nhận sự tự nguyện này.
Đại diện Công Ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu X trình bày đã nhiều lần bị mất trộm lúa, gạo, tấm khi giao ghe cho bị cáo vận chuyển và yêu cầu làm rõ, tuy nhiên công ty không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên chưa có cơ sở để xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 02 quyển tập học sinh.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo, là có căn cứ nên được chấp nhận.
Đối với người đàn ông và người phụ nữ đã mua lúa của bị cáo do chưa xác định được nhân thân địa chỉ cụ thể nên chưa tiến hành làm việc được, đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ xử lý sau.
Về án phí: bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 38; 47; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 .
- Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Hình phạt bổ sung: miễn cho bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: công nhận sự tự nguyện của bị cáo đã giao nộp số tiền 8.210.000đ (tám triệu hai trăm mười ngàn đồng) bồi thường cho bị hại, trong đó 6.210.000đ (sáu triệu hai trăm mười ngàn đồng) bồi thường 900kg lúa lấy trộm, 2.000.000đ (hai triệu đồng) bồi thường 5 bao tấm bị cáo làm mất. Đại diện bị hại đồng ý nhận số tiền này.
(Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt đang tạm giữ số tiền 8.210.000đ theo quyết định chuyển vật chứng số 204/QĐ-VKS ngày 18/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt. Đề nghị trích trả cho bị hại).
3. Về vật chứng: lưu hồ sơ vụ án 02 quyển tập học sinh (đã chuyển theo hồ sơ vụ án).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ tiếp theo của ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND quận Thốt Nốt; - Công an quận Thốt Nốt; - Chi cục THADS quận Thốt Nốt; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Khúc Thị Hồng |