vanban.org

Bản án 94/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 07/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 136 , Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Lưu Thị Ngọc B 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/01/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Thị Ngọc Bích - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 136 , Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN H
THÀNH PHỐ H
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2020/HS-ST
Ngày 07/05/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình T

Các Hội thẩm nhân dân :

Bà Trần Thị M

Bà Nguyễn Thị B

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh H – Thư ký Tòa án nhân dân quận H, thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Phú S- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 05 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 136/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 04 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111 /2020/QĐXXST-HS ngày 23/04/2020đối với bị cáo:

Lưu Thị Ngọc B, sinh năm 1962 tại Hà Nội; ĐKHKTT: Số 16 Phố H, phường H, quận H, thành phố H; Nơi cư trú: Số 11 ngõ 71 phố T, phường T, quận H, H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 05/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lưu Ngọc Q (c) và bà Lưu Thị H (c); Có chồng là Đặng Việt H (c). Gia đình có 03 anh, chị em, bị cáo là con thứ hai

Nhân thân: Tiền án; Tiền sự: Không.

Đầu thú ngày 27/04/2019; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú: 06/06/2019;Tạm giữ ngày 05/01/2020; Tạm giam ngày 08/01/2020. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 02 cơ sở 2 – Công an thành phố H; Có mặt.

Bị hại: anh Trần Mạnh Q, sinh năm 1977

Trú tại: Số 94 phố T, phường T, quận H, thành phố H. Anh Quang có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghiwa vụ liên quan:

Ông Vũ Mạnh C, sinh năm 1967.

Trú tại: Số 97 phố Y, phường Q, quận B, thành phố H. Ông C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 27/4/2019, bị cáo Lưu Thị Ngọc B đi xe đạp từ nhà thuê trọ ở số 11 ngõ 71 Thanh Lân, phường Thanh Trì, quận H, H đến quán nước tại số 94 phố Thanh Lân, phường Thanh Trì, quận H, H của anh Trần Mạnh Quang để uống nước. Lúc này có anh Trần Mạnh Quang đang ngồi bán nước, tại đây B nói anh Quang bán cho một cốc nước trà đá, anh Quang làm cốc trà đá đưa cho B, Bích uống được mấy hụm thì lại gọi thêm một cốc nước mía. Lúc này anh Quang gọi vợ là chị Vương Thị Thanh Thúy ở trong nhà ra làm nước mía cho Bích, chị Thúy ra làm xong cốc nước mía đưa cho B, sau đó anh Quang đi vào trong nhà thay quần áo để đi làm, trong lúc anh Quang thay quần áo thì chị Thúy bê 05 cây mía vào trong nhà. Thấy anh Quang và chị Thúy ở trong nhà, lúc ngày trên mặt bàn nước gần chỗ B ngồi có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7 2018 màu vàng đang mở nhạc không có ai trông giữ, nên Bích đã nảy sinh ý định trộm cắp. B cầm chiếc điện thoại trên và đi xe đạp về nhà trọ cất giấu. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, B đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết chở lên cửa hàng mua bán điện thoại tại số 3A phố Đặng Dung, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, H và bán chiếc điện thoại trộm cắp được cho anh Vũ Mạnh Cường với số tiền 2.000.000 đồng. Anh Cường thấy chiếc điện thoại không khóa mật khẩu màn hình nên đồng ý mua với giá tiền 2.000.000 đồng. Khi Bích về nhà nhận thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật nên đến 17 giờ 30 phút cùng ngày 27/04/2019, B cầm số tiền 2.000.000 đồng đến Công an phường Thanh Trì, quận H, H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Ngày 28/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H khám xét khẩn cấp nơi ở của B tại số 11 ngõ 71 phố Thanh Lân, phường Thanh Trì, quận H, H không phát hiện thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H số: 90/HDĐG ngày 20/5/2019 kết luận : 01 ( Một ) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung A7 2018 màu vàng , imei: 353465101978045, có giá trị: 3.900.000 (Ba triệu, chín trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra Lưu Thị Ngọc B vắng mặt khỏi nơi cư trú. Ngày 04/10/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra quyết định truy nã số: 26 đối với Lưu Thị Bích Ngọc

Ngày 05/10/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 90 và quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can số 22 đối với Lưu Thị Ngọc B về tội Trộm cắp tài sản, do không biết rõ Lưu Thị Ngọc B đang ở đâu.

Ngày 05/01/2020 Lưu Thị Ngọc B ra Công an phường Thanh Trì quận Hoàng Mai đầu thú. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra quyết định đình nã số:01 ngày 05/01/2020 đối với Lưu Thị Ngọc B.

Ngày 06/01/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự số 02 và quyết định phục hồi điều tra bị can số 02 ngày 06 tháng 01 năm 2020 đối với Lưu Thị Ngọc B về tội Trộm cắp tài sản.

Tại cơ quan điều tra công an quận H, Lưu Thị Ngọc B khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung A7 2018 màu vàng vào ngày 27/04/2019 tại quán nước số 94 phố Thanh Lân, phường Thanh Trì, quận H, H của anh Trần Mạnh Quang như trên.

Tại cơ quan điều tra công an quận H anh Trần Mạnh Q khai: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 27/4/2019, anh đang ngồi bán nước ở nhà tại số 94 phố Thanh Lân, phường Thanh Trì, quận H, H thì có một người phụ nữ ( sau này tại công an anh biết tên là Lưu Thị Ngọc B ) đến quán uống nước. Tại đây B nói bán cho một cốc nước trà đá, anh làm cốc trà đá đưa cho B, Bích uống được mấy hụm thì lại gọi thêm một cốc nước mía. Lúc này anh gọi vợ là chị Vương Thị Thanh T ở trong nhà ra làm nước mía cho Bích, chị Thúy ra làm xong cốc nước mía đưa cho B. Sau đó anh đi vào trong nhà thay quần áo để đi làm, trước đó anh có để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7 2018 màu vàng đang mở nhạc ở trên bàn bán nước. Sau khi anh thay quần áo xong thì chị T có bê 05 cây mía vào trong nhà, anh có hỏi chị T điện thoại để ngoài quán ở đâu thì chị T trả lời không biết. Anh và chị T ra quán và bàn bán nước thì không thấy chiếc điện thoại và cũng không thấy Bích ở đây. Anh nghi ngờ B đã trộm cắp chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung đang mở nhạc của anh lên ra Công an phường Thanh Trì trình báo. Quá trình điều tra công an đã thu hồi được chiếc điện thoại và ngày 05/8/2019, Công an quận H đã trả lại cho anh chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A7 2018, màu vàng. Anh đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự.

Tại cơ quan điều tra công an quận H ông Vũ Mạnh C khai: Khoảng 12 giờ 00 ngày 27/04/2019 ông đang ở cửa hàng bán điện thoại tại số 3A phố Đặng Dung, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình thì có một người phụ nữ đi vào cửa hàng (sau này ông mới biết tên là Lưu Thị Ngọc B). Lúc đó chị Bích có cầm trên tay chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung A7 2018, màu vàng và hỏi ông “ chú có mua điện thoại cũ không” ông xem chiếc điện thoại thấy điện thoại không để mật khẩu lên trả giá 2.000.000 đồng nhưng chị B không đồng ý bán, sau đó chị B quay lại bảo “ Thôi bán cho chú tôi lấy tiền đóng viện phí”. Ông đã trả cho chị B 2.000.000 đồng tiền mua chiếc điện thoại Samsung A7 2018. Đến khoảng 19 giờ 00 cùng ngày thì Cơ quan công an dẫn chị B đến cửa hàng và thông báo cho ông biết chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung chị B bán cho ông là do phạm tội trộm cắp mà có. Ông đã giao nộp chiếc điện thoại cho Cơ quan công an. Khi mua ông không biết chiếc điện thoại là do phạm tội mà có, ông có kiểm tra máy không có mật khẩu, hoạt động bình thường lên mới mua. Quá trình điều tra ngày 05/8/2019, Cơ quan điều tra Công an quận H đã trả lại cho ông số tiền 2.000.000 đồng đã bỏ ra mua chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung của chị Bích. Ông đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu về bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 2142/CT-VKS-HS ngày 07/04/2020 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận H, thành phố H: Truy tố bị cáo Lưu Thị Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

[1]. Tại phiên tòa: Qua xét hỏi công khai bị cáo Lưu Thị Ngọc B thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội vào hồi 08 giờ 20 ngày 27/04/2019 đã lợi dụng sử sơ hở của anh Trần Mạnh Q chủ quán nước chè tại nhà số 94 phố Thanh Lân, phường T Quận H, thành phố H đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại Samsung A7 2018 màu vàng, có giá trị là 3.900.000đ ( Ba triệu chín trăm nghìn đồng ). Bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình.

Bị hại anh Trần Mạnh Quang, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Mạnh Cường có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Q ông C đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.

Chủ tọa phiên tòa đã công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại Cơ quan điều tra. Bị cáo Lưu Thị Ngọc B nghe rõ lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên và công nhận đúng, không phản bác gì;

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lưu Thị Ngọc B từ 06 tháng tù đến 10 tháng tù.; Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên không xem xét.

[2] Phần tranh luận tại phiên tòa: bị cáo Lưu Thị Ngọc B thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của mình là đúng, không oan, sai nên không có tranh luận.

[3] Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại anh Trần Mạnh Q, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Mạnh Cường có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 20 ngày 27/04/2019 tại quán nước ở nhà số 94 phố T, phường T, quận H, thành phố H bị cáo Lưu Thị Ngọc B đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại Samsung A7 2018 màu vàng, có giá trị là 3.900.000đ (Ba triệu chín trăm nghìn đồng) của anh Trần Mạnh Q. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiêm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội biết không thể trốn tránh được nên bị cáo đã đến Cơ quan công an đầu thú. Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về nhân thân: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội,các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội lần đầu . Quá trình điều tra bị cáo được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng không chấp hành lệnh vắng mặt khỏi nơi cư trú. Điều đó thể hiện bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật nên cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên không xem xét.

Về biện pháp tư pháp: 01 chiếc điện thoại Samsung A7 2018 màu vàng, bị hại đã được trả lại nên không xem xét.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H quyết định truy tố bị cáo Lưu Thị Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và các điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức án đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 22, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục I Danh mục mức án phí lệ phí Tòa án:.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 136 , Điều 292, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

1.Xử phạt bị cáo Lưu Thị Ngọc B 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/01/2020.

2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu về bồi thường dân sự nên không xét.

4.Về án phí: Bị cáo Lưu Thị Ngọc B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ