vanban.org

Bản án 94/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Võ Anh T. Anh Võ Anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ D. Anh Võ Anh T không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

Về con chung: : Anh Võ Anh T được trực tiếp nuôi con chung tên Võ Anh K, sinh ngày 11/01/2011. Do anh Võ Anh T không yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ D cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Chị Nguyễn Thị Mỹ D có quyền thăm con, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Anh T tranh chấp ly hôn với Nguyễn Thị Mỹ D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Võ Anh T. Anh Võ Anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ D. Anh Võ Anh T không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2020/HNGĐ – ST
Ngày 09- 3 - 2020
V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phê

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Sơn

Ông Lê Văn Tài

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú - tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phú Quí - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2019/TLST– HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2019 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐST–HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/QĐST – HNGĐ ngày 26/02/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:Võ Anh T, sinh năm 1989; đăng ký thường trú: số 150/25 Đào Sư Tích, tổ 1 ấp 2, xã PL, huyện NB, thành phố Hồ Chí Minh. Anh Võ Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1990. Địa chỉ: số 30/2 ấp H, xã Đ, huyện P, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn anh Võ Anh T trình bày:

Vào năm 2010 anh và chị Nguyễn Thị Mỹ D được gia đình hai bên tổ chức đám cưới; hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn Uỷ ban nhân dân phường An Khánh, Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/7/2010. Trong thời gian sống chung anh, chị có 01con chung tên Võ Anh K, sinh ngày 11/01/2011, hiện nay con chung đang sống chung với anh. Anh và chị D không có tài sản chung và nợ chung.

Nguyên nhân anh xin ly hôn với chị D là do trong thời gian chung sống; anh chị luôn bất đồng quan điểm. Do đó sau khi chị D sinh con được khoảng 9 tháng thì chị D chị D không quan tâm chăm sóc con chung và tự ý bỏ nhà đi cho đến nay. Anh chị được gia đình hai bên nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Do tình cảm giữa anh và chị D không thể hàn gắn được nên anh có yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Anh yêu cầu được ly hôn với Nguyễn Thị Mỹ D; anh không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.

Về con chung: Hiện nay con chung đang sống chung với anh; anh luôn thương yêu chăm sóc tốt cho con chung và con chung có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Do đó anh yêu cầu được được trực tiếp nuôi con chung tênVõ Anh K, sinh ngày 11/01/2011, anh không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên anh không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn Nguyễn Thị Mỹ D đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng chị D vẫn vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm. Trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: Trong thời gian chung sống anh T và chị D đã phát sinh mâu thuẫn. Hai bên gia đình đã tìm cách để anh, chị hàn gắn nhưng không thành. Do đó có căn cứ hôn nhân giữa anh T và chị D mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81,82, 83, 84, 115 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thẩm quyền: Bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ D hiện có sinh sống và đăng ký hộ khẩu tại số 30/2 ấp H, xã Đ, huyện P, tỉnh Bến Tre; do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Anh T có yêu cầu xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị Mỹ D đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng chị D vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T và chị D.

Về hôn nhân: Anh Võ Anh T và chị Nguyễn Thị Mỹ D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bên nào bị lừa dối hoặc bị ép buộc, cả hai có đủ điều kiện kết hôn. Việc kết hôn có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân phường AK, Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/7/2010. Vì vậy quan hệ hôn nhân của anh T và chị D được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nguyên nhân anh T xin ly hôn với chị D là do bất đồng quan điểm và không con sống chung từ năm 2012 cho đến nay. Xét thấy: Hiện nay anh T và chị D không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Mặc khác Tòa án đã tạo điều kiện để anh T và chị D hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng chị D vắng mặt không có lý do nên từ đó có căn cứ kết luận tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân giữa anh T và chị D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T là phù hợp.

Do anh Võ Anh T không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về con chung: anh Võ Anh T và chị Nguyễn Thị Mỹ D có con chung tênVõ Anh K, sinh ngày 11/01/2011. Xét thấy: Từ năm 2012 anh T và chị D không còn sống chung thì con chung do anh T trực tiếp nuôi dưỡng, con chung có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Mặt khác hiện nay con chung Võ Anh K có nguyện vọng sống chung với anh T. Lẽ đó để không làm thay đổi môi trường sống và sinh hoạt hằng ngày của cháu nên cần giao cho anh T được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với qui định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do anh T không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về, tài sản chung anh T trình bày không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung anh T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Võ Anh T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[11 ] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, 147, điểm a, b, khoản 2 Điều 227, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Võ Anh T. Anh Võ Anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ D. Anh Võ Anh T không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

2. Về con chung: : Anh Võ Anh T được trực tiếp nuôi con chung tên Võ Anh K, sinh ngày 11/01/2011. Do anh Võ Anh T không yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ D cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Chị Nguyễn Thị Mỹ D có quyền thăm con, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh Võ Anh T và chị Nguyễn Thị Mỹ D có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung anh Võ Anh T trình bày không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết

4. Về tài sản chung anh Võ Anh T không có nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Anh Võ Anh T phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006265 ngày 06/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú và đã nộp xong.

Đương sự có mặt tại Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bến Tre;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ -VKSND huyện Thạnh Phú;

(Đã ký)

- Chi cục THADS huyện Thạnh Phú;

- Đương sự;

- UBND phường An Khánh, Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Huỳnh Thị Phê

Cỡ chữ