- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "LÂM ÁNH TUYẾT"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà L A T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 12 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn th…; Điều 122 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2020/DSST Ngày: 06- 4 -2020 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Giàu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Năm
Bà Thái Thục Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 06/4/2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2019/TLST-DS ngày 04 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 2 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2020/QĐST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà L A T, sinh năm 1966.(Vắng mặt)
Địa chỉ:X lô B chung cư SVH, Phường T, Quận K ,Tp. Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đ H T, sinh năm 1974 – Văn bản uỷ quyền số
003836 ngày 28/11/2018.(Có mặt)
Địa chỉ: AD , phường H, Quận P, Tp. Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Công ty TNHH TM-XD VHP.
Địa chỉ: D TTV, Phường X, Quận Y, Tp Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông N V M, sinh năm 1962.(Vắng mặt)
Địa chỉ: H TTV, Phường Y, Quận O, Tp. Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 26/12/2011 Công ty TNHH TM-XD VHP (gọi tắt là Công ty VHP) cùng Bà L A T ký hợp đồng mua bán căn hộ số 58B/2011/HĐMBCH-VHP,cùng các phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ-VHP, 02/PLHĐ-VHP, 03/PLHĐ-VHP, 04/PLHĐ-VHP. Nội dung cơ bản của hợp đồng như sau: căn hộ số A2-LA, tầng 14, diện tích 108.91 m2, giá căn hộ là 2.288.199.100 đồng, ngày bàn giao căn hộ là 30/3/2013. Bà Tuyết đã thanh toán số tiền là 1.944.969.235 đồng theo phiếu thu số PT01 ngày 26/12/2011 tương đương 85% giá trị căn hộ. Đã quá thời hạn thoả thuận nhưng Công ty VHP không giao căn hộ cho nguyên đơn. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng, buộc Công ty VHP hoàn trả số tiền đã nhận là 1.944.969.235 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời rút yêu cầu buộc Công ty VHP phải chịu khoản tiền lãi phạt do chậm bàn giao căn hộ là 292.000.000 đồng.
Bị đơn là Công ty TNHH TM-XD VHP, đại diện theo pháp luật là ông N V M vắng mặt nên không thu được lời khai cũng như không hoà giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân Quận 8 thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ pháp luật không vi phạm Tố tụng. Bị đơn không tuân thủ đúng quy định pháp luật. Yêu cầu của bà T là có căn cứ pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét đơn khởi kiện của Bà L A T, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ, trụ sở của bị đơn và bất động sản tọa lạc tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo qui định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty VHP đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Công ty VHP được thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty TNHH hai thành viên trở lên, mã số doanh nghiệp 0304957739. Theo quy định của Điều 3, Điều 4, Điều 12 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính Phủ thì Công ty được phát triển dự án nhà ở có mục đích hỗn hợp (nhà ở, trung tâm thương mại, dịch vụ, văn phòng) để bán, cho thuê theo nhu cầu và cơ chế thị trường. Công ty VHP là chủ đầu tư dự án chung cư cao tầng tại số X B S, Phường X, Quận Y, thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 37/QĐ-SXD-PTN ngày 16/4/2009, Quyết định số 84/QĐ-SXD-TĐDA ngày 30/6/2010 về việc điều chỉnh quyết định số 37/QĐ-SXD-PTN ngày 16/4/2009 của Sở xây dựng - Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 3527/QĐ-UBND ngày 23/7/2009 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó Công ty VHP được quyền bán căn hộ cho bà T như quy định tại các Điều 389, Điều 402 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 21 Luật nhà ở năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Về hình thức của hợp đồng mua bán căn hộ chung cư, theo quy định tại Điều 63 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 thì việc mua bán không cần phải công chứng chứng thực, mẫu hợp đồng mua bán căn hộ phù hợp với mẫu hợp đồng mua bán căn hộ như phụ lục số 15 kèm theo Thông tư 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010. Theo quy định tại khoản 1, Điều 39, Luật nhà ở năm 2005; điểm đ, khoản 3, điều 9 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 thì chủ đầu tư chỉ được ký hợp đồng mua bán nhà ở khi đã có thiết kế kỹ thuật nhà ở được phê duyệt, đã xây dựng xong phần móng của nhà ở, đã hoàn thành thủ tục mua bán qua sàn giao dịch bất động sản theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản. Theo công văn số 8900/SXD-TT ngày 30/7/2018 của Sở xây dựng thành phố Hồ Chí Minh về việc kiểm tra, đề xuất xử lý đối với dự án căn hộ cao cấp VHP tại số X BS - TQB, Phường X, Quận Y, Thành Phố Hồ Chí Minh thì Công ty VHP chưa thi công xong phần móng nhưng đã ký hợp đồng bán căn hộ để huy động vốn. Theo Điều 22 Luật kinh doanh bất động sản năm 2006; điểm đ, khoản 3, điều 9 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010, Điều 18 Thông tư 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 quy định việc tổ chức cá nhân, kinh doanh bất động sản phải bán nhà, công trình xây dựng qua sàn giao dịch bất động sản. Hồ sơ khởi kiện không có chứng cứ thể hiện hợp đồng mua bán căn hộ giữa Công ty VHP và bà L A T được bán thông qua sàn giao dịch bất động sản.Như vậy, việc bán căn hộ chung cư của Công ty VHP cho nguyên đơn chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 122 và Điều 127 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì hợp đồng mua bán căn hộ số 58B/2011/HĐMBCH-VHP ngày 26/12/2011, các phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ-VHP, 02/PLHĐ-VHP, 03/PLHĐ-VHP, 04/PLHĐ-VHP cùng ký ngày 26/12/2011 là vô hiệu. Theo quy định tại Điều 137 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi gây ra thiệt hại thì phải bồi thường. Công ty VHP là chủ đầu tư dự án nhưng không tuân thủ các thủ tục theo quy định pháp luật khi ký hợp đồng bán cho khách hàng nên gây thiệt hại cho nguyên đơn vì thế phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên phía nguyên đơn chỉ yêu cầu chấm dứt việc tiếp tục thực hiện hợp đồng, hoàn trả số tiền đã giao, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn buộc Công ty VHP phải hoàn trả cho bà T số tiền đã nhận là 1.944.969.235 đồng.
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện buộc Công ty VHP phải chịu khoản tiền lãi phạt do chậm bàn giao căn hộ là 292.000.000 đồng. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên Hội Đồng Xét Xử chấp nhận và đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện đã rút theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì yêu cầu của bà T được chấp nhận nên Công ty VHP phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 244, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 122, Điều 127, Điều 137, Điều 389, Điều 402 của Bộ luật dân sự năm 2005;
- Căn cứ vào Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 22 của Luật kinh doanh bất động sản năm 2006;
- Căn cứ vào Điều 21, Điều 39 của Luật nhà ở năm 2005 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2009);
- Căn cứ vào Điều 3, Điều 4,Điều 9, Điều 12, Điều 63 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010;
- Căn cứ vào Điều 18 của Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 của Bộ xây dựng;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà L A T.
1.1 Hợp đồng mua bán căn hộ số 58B/2011/HĐMBCH-VHP ngày 26/12/2011, các phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ-VHP, 02/PLHĐ-VHP, 03/PLHĐ-VHP, 04/PLHĐ-VHP cùng ký ngày 26/12/2011 giữa Bà L A T và Công ty TNHH TM-XD VHP là vô hiệu.
1.2 Buộc Công ty TNHH TM-XD VHP hoàn trả cho bà L A T số tiền là 1.944.969.235 (Một tỷ chín trăm bốn mươi bốn triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm ba mươi lăm) đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
1.3 Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về đòi tiền lãi phạt do chậm bàn giao căn hộ là 292.000.000 (Hai trăm chín mươi hai triệu ) đồng.
1.4 Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thực hiện việc trả tiền như bản án đã tuyên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí:
2.1 Án phí dân sự sơ thẩm là 70.349.077 (Bảy mươi triệu ba trăm bốn mươi chín nghìn không trăm bảy mươi bảy) đồng, Công ty TNHH TM-XD VHP chịu, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2.2 Bà L A T không phải chịu án phí. Số tiền tạm ứng án phí 38.670.000 (Ba mươi tám triệu sáu trăm bảy chục nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0018792 ngày 17/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8 được hoàn trả cho bà T.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014), người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Hội đồng xét xử đã giải thích cho các đương sự về việc yêu cầu thi hành án.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM - VKSND Q.8 - Chi cục THA DS Q8 - Các đương sự - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Giàu |