vanban.org

Bản án 94/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 27/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/07/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tand huyÖn lôc nam
tØnh b¾c giang

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2019/HSST
Ngày: 27/11/2019

NH©N DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Toan

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tiến Chỉnh

2. Ông Từ Minh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự- Thư ký TAND huyện Lục Nam, Tỉnh Bắc Giang .

- Đại diện VKSND huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai- Kiểm sát viên.

Ngày 27/11/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2019/HSST ngày 25/10/2019 đối với bị cáo:

Bùi Văn H, sinh năm 1988; Tên gọi khác: Không có;

Nơi sinh: Xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;

Nơi ở: Thôn Đồng, xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con ông: Bùi Văn H, sinh năm 1947.

Con bà: Lê Thị T, sinh năm 1955.

Gia đình bị cáo có năm anh chị em ruột, bị cáo là thứ năm.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án:

- Tại Bản án số 10 ngày 23/2/2006 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt Bùi Văn H 9 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Tại Bản án số 39 ngày 26/3/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm p Khoản 1 Điều 46; Điểm g Khoản 1 Điều 48; Điều 33, Điều 42 BLHS 1999 xử phạt Bùi Văn H 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 25/6/2010 chấp hành xong hình phạt tù

- Tại Bản án số 75 ngày 25/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điểm g Khoản 1 Điều 48; Điều 33, Điều 42 BLHS 1999 xử phạt Bùi Văn H 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 1.560.000đ).

- Tại Bản án số 102 ngày 20/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 138, Điểm p Khoản 1 Điều 46; Điểm g Khoản 1 Điều 48; Điều 20; Điều 53, Điều 51, Điều 33 BLHS 1999 xử phạt Bùi Văn H 5 năm tù. Tổng hợp với Bản án số 75 ngày 25/9/2012 buộc Bùi Văn H phải chấp hành chung cho hai bản án là 6 năm 6 tháng tù. Bùi Văn H kháng cáo. Tại Bản án số 56 ngày 22/4/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với Bùi Văn H. Ngày 26/11/2018, Bùi Văn H chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2019 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Ông Vi Văn L sinh năm 1963

Địa chỉ: Thôn Ba Gò, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

Người liên quan:

1/ Anh Đào Đức C sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn Hà Tú, xã Chu Điện, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

2/ Bà Lê Thị T sinh năm 1955

Địa chỉ: Thôn Đồng, xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

Néi dung vô ¸n

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn H, sinh năm 1988, trú tại thôn Đồng, xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và Đào Đức Cương, sinh năm 1984, trú tại thôn Hà Tú, xã Chu Điện, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là bạn quen biết xã hội với nhau. Khoảng 01 giờ ngày 02/7/2019, Bùi Văn H đi xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe sirius, biển số 98B3-34960 đến nhà Đào Đức Cương để rủ Cương đi trộm cắp tài sản lấy tiền chi tiêu cá nhân. Đi đến nhà Cương, H đỗ xe ở ngoài cổng rồi gọi Cương. Cương đang ngủ, nghe thấy tiếng H gọi liền dậy đi ra cổng. Tại đây H bảo với Cương là “Đi. Cương nói “Đi đâu?”. H nói “Anh em mình đi kiếm tý”, Cương hiểu là H rủ đi trộm cắp tài sản thì đồng ý và không nói gì. Ngay sau đó H điều khiển xe mô tô chở Cương đi đến địa phận xã Nghĩa Phương xem nhà nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khi đi đến khu vực ngã ba chợ Quỷnh, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, H đỗ xe lại để Cương nhặt một chiếc bao tơ dứa màu cam để đựng đồ trộm cắp được, rồi H tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Cương đi. Khi đến địa phận thôn Ba Gò, xã Nghĩa Phương thì cả hai phát hiện cổng nhà ông Vi Văn Lỵ, sinh năm 1963 ở phía bên trái đường theo chiều đi của H không khóa, nên đã nảy sinh ý định vào nhà ông Lỵ để trộm cắp tài sản. H đỗ xe ngoài đường cách nhà ông Lỵ khoảng 10m và bảo Cương “Đứng ở đây đợi em, để em vào trong vườn xem có gà không”, rồi H cầm đèn pin (dạng đèn pin đeo đầu) đã để ở trong cốp xe từ trước đi vào gian nhà bán hàng bỏ không, không có cửa của nhà ông Lỵ. H đi tiếp qua cửa ngách đằng sau gian bán hàng vào khu chuồng lợn của nhà ông Lỵ rồi soi đèn pin thì có khoảng 3 đến 4 con gà chạy từ chuồng lợn ra vườn, H đuổi theo bắt được 01 con gà, cầm mang ra chỗ Cương đứng đợi đưa cho Cương. Cương cầm con gà H đưa đút vào bao tơ dứa, còn H cầm đèn pin quay lại chuồng lợn bắt tiếp được hai con gà nữa ở góc vườn rồi mang ra đưa cho Cương. Khi Cương và H đang cho hai con gà vào bao, chuẩn bị nổ xe đi thì bị tổ công tác của Công an huyện Lục Nam bắt quả tang vào lúc 03 giờ 15 phút cùng ngày. Tang vật thu giữ gồm: 03 con gà ta, trong đó có 02 con gà trống lông màu vàng có trọng lượng lần lượt là 1,2kg và 2,3kg, 01 con gà mái lông màu vàng nặng 01 kg; 01 bao tơ dứa màu cam; 01 đèn pin dạng đeo đầu; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B3-349.60; kiểm tra trong cốp xe mô tô biển số 98B3-34960 phát hiện và thu giữ 01 thanh kim loại màu đen xám, hình trụ tròn, một đầu vát nhọn, một đầu cắt phẳng, chiều dài 26,7cm, đường kính 1,5cm; 01 chiếc chòong bằng kim loại mầu đen, có một đầu nhọn, một đầu tròn, dài 23,8cm, đường kính 1,07cm. Kiểm tra trên người Đào Đức Cương phát hiện và thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, số tiền 280.000đ. Cùng ngày 02/7/2019, ngay sau khi tiến hành làm việc và xác định trọng lượng số gà trên, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Lục Nam đã trả lại 03 gà cho ông Vi Văn Lỵ. Ông Lỵ đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác.

Ngày 02/7/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Lục Nam đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với tài sản là ba con gà mà Bùi Văn H và Đào Đức Cương trộm cắp được. Tại Kết luận định giá tài sản ngày 03/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Nam kết luận: 01 con gà mái (loại gà ta) trọng lượng 1,0kg, 01 con gà trống (loại gà ta) nặng 1,2kg, 01 con gà trống (loại gà ta) nặng 2,3kg có tổng giá trị là 405.000đ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe sirius, biển số 98B3-34960 là của bà Lê Thị Thăm, sinh năm 1955 là mẹ đẻ của Bùi Văn H, cho H mượn để đi lại. Việc H sử dụng chiếc xe để đi trộm cắp tài sản bà Thăm không được biết; Tài sản là 01 chiếc điện thoại di động Masstel và số tiền 280.000đ là của Đào Đức Cương không liên quan đến việc phạm tội. Do vậy, ngày 27/8/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Lục Nam đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Thăm và Đào Đức Cương số tài sản trên.

Trong vụ án này, Đào Đức Cương đã cùng H trộm cắp tài sản, do hành vi của Cương không cấu thành tội phạm nên ngày 27/8/2019, Công an huyện Lục Nam đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Cương về hành vi trộm cắp tài sản theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Hiện Đào Đức Cương chưa chấp hành quyết định này.

Vật chứng chuyển xử lý theo vụ án gồm: 01 bao tơ dứa màu cam; 01 thanh kim loại màu đen xám, hình trụ tròn, một đầu vát nhọn, một đầu cắt phẳng, chiều dài 26,7cm, đường kính 1,5cm; 01 chiếc chòong bằng kim loại màu đen, có một đầu nhọn, một đầu tròn, dài 23,8cm, đường kính 1,07cm; 01 đèn pin dạng đeo đầu.

Quá trình điều tra, Bùi Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Tại bản cáo trạng số 85/KSĐT ngày 22/10/2019 của VKSND huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang sau khi luận tội, phân tích các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và trách nhiệm dân sự đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* ¸p dông ®iÓm b kho¶n 1 §iÒu 173; ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51, Điều 38 BLHS n¨m 2015, xö ph¹t:

Bùi Văn H tõ 08 th¸ng ®Õn 10 th¸ng tï, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2019. Kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung lµ ph¹t tiÒn ®èi víi bÞ c¸o.

VÒ xö lý vËt chøng: TÞch thu tiªu hñy cña bÞ c¸o 01 bao t¬ røa mµu xanh cam, 01 thanh kim lo¹i mµu ®en x¸m h×nh trô trßn, 01 ®Çu v¸t nhän, 01 ®Çu c¾t ph¼ng, chiÒu dµi 26,7cm, ® êng kÝnh 1,5cm, 01 chiÕc chßong b»ng kim lo¹i mµu ®en, cã 01 ®Çu nhän, 01 ®Çu trßn dµi 23,8cm, ® êng kÝnh 1,07cm, 01 ®Ìn pin d¹ng ®eo ®Çu.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là phạm tội và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NhËn ®Þnh cña tßa ¸n

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, HĐXX nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong BLTTHS. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội: Khoảng 01 giờ ngày 02/7/2019, Bùi Văn H rủ Đào Đăng Cương đi trộm cắp tài sản lấy tiền chi tiêu cá nhân, Cương đồng ý rồi cả hai đi tìm sơ hở để trộm cắp. Khi phát hiện nhà ông Vi Văn Lỵ, sinh năm 1963 ở thôn Ba Gò, xã Nghĩa Phương không khóa cổng, Cương đứng ngoài cảnh giới còn H vào nhà ông Lỵ trộm cắp được 03 con gà (loại gà ta) có tổng trọng lượng là 5,4kg và có tổng trị giá là 405.000đ. Khi H và Cương đang cho gà vào bao thì bị Tổ công tác Công an huyện Lục Nam bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Bùi Văn H hiện có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”.

[3] Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận Bùi Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

…

b, Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”

Tại bản cáo trạng số 85/2019/KSĐT ngày 22/10/2019 của VKSND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Ngoài những tình tiết định tội, định khung hình phạt, HĐXX xét thấy cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo, HĐXX thấy:

- Về tình tiết tăng nặng TNHS: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình thực hiện phạm tội thể hiện quyết tâm phạm tội của bị cáo, bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự pháp luật gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Do hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo trên cần nên một mức án tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Từ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHS và nhân thân của bị cáo HĐXX cân nhắc, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo Bùi Văn H có nhân thân xấu nhưng không chịu làm ăn lương thiện, không chấp hành nghiêm pháp luật nhà nước, điều đó thể hiện bị cáo lười lao động, coi thường pháp luật.

[5] Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H thuộc hộ nghèo, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[7] Về mức án mà vị đại diện VKSND huyện Lục Nam đề nghị áp dụng, tuyên phạt đối với bị cáo là phù hợp và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[8] Trong vụ án này, Đào Đức Cương đã cùng H trộm cắp tài sản, do hành vi của Cương không cấu thành tội phạm nên ngày 27/8/2019, Công an huyện Lục Nam đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Cương về hành vi trộm cắp tài sản theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe sirius, biển số 98B3-34960 là của bà Lê Thị Thăm, sinh năm 1955 là mẹ đẻ của Bùi Văn H, cho H mượn để đi lại. Việc H sử dụng chiếc xe để đi trộm cắp tài sản bà Thăm không được biết; Tài sản là 01 chiếc điện thoại di động Masstel và số tiền 280.000đ là của Đào Đức Cương không liên quan đến việc phạm tội. Do vậy, ngày 27/8/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Lục Nam đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Thăm và Đào Đức Cương số tài sản trên, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam thu giữ của bị cáo H gồm: 01 bao tơ dứa màu cam; 01 thanh kim loại màu đen xám, hình trụ tròn, một đầu vát nhọn, một đầu cắt phẳng, chiều dài 26,7cm, đường kính 1,5cm; 01 chiếc chòong bằng kim loại màu đen, có một đầu nhọn, một đầu tròn, dài 23,8cm, đường kính 1,07cm; 01 đèn pin dạng đeo đầu, xác định bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí: Bị cáo H thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015; Điều 135; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/07/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS

Tịch thu tiêu hủy của bị cáo: 01 bao tơ dứa màu cam; 01 thanh kim loại màu đen xám, hình trụ tròn, một đầu vát nhọn, một đầu cắt phẳng, chiều dài 26,7cm, đường kính 1,5cm; 01 chiếc chòong bằng kim loại màu đen, có một đầu nhọn, một đầu tròn, dài 23,8cm, đường kính 1,07cm; 01 đèn pin dạng đeo đầu.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./

Cỡ chữ