- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Mai Ngọc Th, sinh năm 1993 - Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1988 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người kh…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Mai Ngọc Th và Nguyễn Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 94/2019/ HS-ST Ngày: 26-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trung Hiếu;
2. Bà Võ Thị Thanh Phương.
Thư ký phiên toà: Ông Văn Nguyệt Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Khang – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2019/TLST- HS ngày 31 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2019/HSST-QĐ ngày 12 tháng 11 năm 2019; đối với các bị cáo:
1. Mai Ngọc Th, sinh năm 1993; Địa chỉ nơi cư trú: Tổ 08, khóm Q, phường H, thành phố D, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; con ông Mai Ngọc Kh, sinh năm 1961 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1964; vợ là bà Nguyễn Thị Tường V; có 01 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/3/2019 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1988; Địa chỉ nơi cư trú: Tổ 03, khóm T, phường C, thành phố D, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Cao Đài; con ông Nguyễn Hoàng B, sinh năm 1966 và bà Tô Thị Ph, sinh năm 1967; có vợ là Võ Thị Ngọc Q; có 01 con sinh năm 2010.
Tiền án: Ngày 14/5/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang kết án 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/8/2013, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ quyết định xử phạt hành chính 75.000.000 đồng về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu; ngày 20/5/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang kết án 04 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”, chấp hành xong hình phạt đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/3/2019 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Lê Thanh V, sinh năm 1970; Địa chỉ nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện H, tỉnh Bến Tre (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thanh V và đại diện theo ủy quyền cho ông Lê Văn T, sinh năm 1945 (cha), cháu Lê Anh K, sinh năm 1999 và làm giám hộ cho cháu Lê Tuấn K1, sinh năm 2010 (con) có bà Huỳnh Thị M (vợ), sinh năm 1975; Nơi cư trú: Số 176/1, ấp T, xã P, huyện H, tỉnh Bến Tre (Giấy ủy quyền ngày 04/11/2019), có mặt.
2. Phan Thành T1, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Tổ 24, ấp Y, xã P, huyện T, tỉnh Bến Tre; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Trung tâm thương mại N, ấp M, xã P, huyện E, tỉnh An Giang; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Cao Văn M1, sinh năm 1986; vắng mặt.
2. Ông Trần Văn S, sinh năm 1967; vắng mặt.
3. Ông Trần Văn L1, sinh năm 1970; vắng mặt.
4. Ông Trần Thanh Tr, sinh năm 1969; vắng mặt.
5. Bà Nguyễn Thị Hồng Th1, sinh năm 1979; vắng mặt.
6. Bà Phạm Thị Mỹ L2, sinh năm 1983; có mặt.
7. Ông Mai Ngọc S1, sinh năm 1987; có mặt.
8. Ông Nguyễn Trọng Ngh, sinh năm 1986; vắng mặt.
9. Ông Phạm Minh L3, sinh năm 1994; vắng mặt.
10. Ông Mai Ngọc Th2, sinh năm 1994; có mặt.
11. Ông Đặng Bá Ph, sinh năm 1990; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 05/3/2019 Mai Ngọc Th và Mai Ngọc S1 (anh ruột Thành), Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Trọng Ngh trong lúc cùng uống rượu tại quán “Song Hân”, Th kể lại mâu thuẫn giữa Phan Thành T1 và Mai Ngọc Th2 (em ruột Th), rủ S1, D, Ngh đến bến xe Châu Đốc (nơi T1 đang làm nhân viên nhà xe: Tổ 20, khóm Mỹ Thành, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang) để giải quyết mâu thuẫn với Phan Thành T1, tất cả đồng ý. Khi đến nơi, Th nhìn thấy T1 và Lê Thanh V đang đứng trong phòng số 14 nên xông vào dùng tay đánh nhiều cái (2,3 cái) vào vùng mặt T1. V vào ôm Th can ngăn bị Th vùng giẫy, xô đẩy V té ngã ngửa xuống nền gạch; Th tiếp tục dùng chân đạp nhiều cái trúng vùng ngực của V, bất tỉnh. Cùng lúc, D nhặt ly thủy tinh ném trúng vùng đầu và dùng tay đánh nhiều cái vào đầu của T1, được S1, Ngh can ngăn T1 bỏ chạy ra ngoài đến bãi xe khách, D đuổi theo cầm vỏ chai bia thủy tinh đánh trúng vùng đầu của T1. Mọi người can ngăn đưa T1, V đến đi cấp cứu; Th, S1, Ngh bỏ về. Ngày 06/3/2019 Th, D đến cơ quan Công an đầu thú. Ngày 07/3/2019, T1 ra viện, riêng V do vết thương lồng ngực nặng, chuyển bệnh viện Chợ Rẫy, Th phố Hồ Chí Minh điều trị, không hồi phục ngày 23/4/2019, V chết tại bệnh viện.
Vật chứng thu giữ: 01 mảnh vỡ thủy tinh màu nâu, có dán chứ Sai Gon Export; 01 ly thủy tinh trong suốt, gãy mất phần tay cầm, nhiều mảnh vỡ bằng thủy tinh trong suốt; 01 áo thun ngắn tay màu đen, ngực áo màu xám; 01 quần jean dài, màu xanh; 01 áo thun ngắn tay màu đen, ngực áo có chữ Let‟s get weird nhiều màu sắc; 01 quần lửng màu xanh; 01 áo thun ngắn tay màu đỏ, vai áo có viền trắng, cổ tròn; 01 quần thun ngắn màu đen, viền đỏ mặt trước bên trái (đã bàn giao Cơ quan thi hành án dân sự); 01 đĩa DVD có chữ ký tên Hồ Nguyễn Quốc Trung, bên trong lưu đoạn video ghi hình ảnh Nguyễn Hoàng D dùng vỏ chai bia đánh Phan Thành T1 tại bến xe Châu Đốc ngày 05/3/2019.
Kết luận giám định pháp y về thương tích và tử thi số 54, 62 và số 68 ngày 07/3/2019, 13/3/2019 và ngày 24/4/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang, ghi nhận:
Họ và tên: Phan Thành T1, sinh năm 1986, ngụ xã Tân Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thương đỉnh trái kích thước 06 cm; sây sát mu bàn tay phải, kích thước (2,5 x 0,5)cm, không liên tục; sây sát đốt xa ngón III bàn tay trái, kích thước (01 x 0,1) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 08%.
Họ và tên: Lê Thanh V, sinh năm 1970, ngụ ấp T, xã P, huyện H, tỉnh Bến Tre. Dấu hiệu chính qua giám định: Sây sát ngực phải, kích thước (01 x 0,5) cm; chấn thương ngực kín, gãy xương sườn IX – X bên phải, tràn khí – tràn máu màn phổi phải; tràn khí trung thất, vỡ thực quản; phẫu thuật dẫn lưu màng phổi trái, điều trị bảo tồn tràn khí màng phổi phải, mở ngực khâu lỗ thủng thực quản - ảnh hưởng đến ăn uống. Dấu hiệu chính qua giám định (sau khi chết): Suy kiệt cơ thể; phù tứ chi; vỡ cơ hoành (T); vỡ thực quản; gãy cung trước xương sườn (T); khoang màn phổi (t) có dịch đục,
giải mạc.
Nguyên nhân chết của Lê Thanh V: Sốc nhiễm trùng nhiễm độc, suy kiệt cơ thể sau vỡ thực quản – vỡ cơ hoành.
Tại Cơ quan điều tra:
Bị cáo Nguyễn Hoàng D khai: Khoảng 18 giờ ngày 05/3/2019 trong lúc cùng nhóm bạn có bị cáo Th đang nhậu tại quán karaoke “Sông Hân” bị cáo định về trước thì Th kêu lại nói cho bị cáo và S1 nghe sự việc Th2 (em của Th) bị tài xế , lơ xe khách chạy chung tuyến với xe của Th chặn đường đánh, Th rủ cả hai cùng đến bến xe Châu Đốc tìm những người có mâu thuẫn với Th2 để nói chuyện, bị cáo và S1 đồng ý. Sau đó Th đi trước bằng xe mô tô loại Dream của mình, còn bị cáo đi cùng S1 bằng xe SH do S1 điều khiển đi sau, đến nơi thấy Th đứng trong phòng trọ dùng tay đánh T1, lúc này V cũng đang đứng trong phòng. Biết mục đích Th rủ bị cáo đến đánh T1, bị cáo xuống xe tiếp Th đánh T1, bước vào phòng thì thấy trên nền gạch có vỏ chai bia, ly thủy tinh nên bị cáo chụp lấy ly thủy tinh ném trúng đầu T1 chảy máu, tiếp tục bị cáo dùng tay đánh vào người nhưng không nhớ trúng đâu. Thấy bị cáo và Th đánh T1, V ôm Th can ngăn thì bị Th dùng chân đạp trúng bụng làm V văng ra trúng vách tường rồi té xuống nền gạch trong tư thế nằm ngữa, Th tiếp tục bước tới đứng sát bên hông ông V dùng chân đạp vào người ông V. Lúc này T1 bỏ chạy ra ngoài, bị cáo cầm lấy vỏ chai bia Sài Gòn đỏ đuổi theo để đánh tiếp, đến bãi đậu xe trước phòng trọ bị cáo đánh trúng đầu T1 một cái làm bể vỏ chai thì S1 chạy đến can ngăn.
Bị cáo Mai Ngọc Th khai: Khoảng 18 giờ ngày 05/3/2019 sau khi nhậu tại quán “Sông Hân” xong bị cáo nhớ lại mâu thuẫn trước đó với L3, T1 là tài xế, lơ xe của xe Tuấn Tài đòi chém, đập xe của Thiên, bị cáo nảy sinh ý định đến Bến xe Châu Đốc tìm L3 và T1 giải quyết mâu thuẫn với những người nhậu chung trong đó có D, mục đích rủ cả ba đi theo tìm L3 và T1 đánh dằn mặt; D nói đi thì đi, còn Du thì không rõ phản ứng thế nào, nói xong bị cáo bước ra lấy xe một mình chạy trước và S1 điều khiển xe SH chở D đi sau. Khi đến nơi trọ của T1 thì thấy V và T1 đang dọn dẹp chỗ nhậu, bị cáo dùng tay đánh đánh vào mặt T1 làm T1 té vào vách tường phía sau, trong lúc đánh T1 có người từ phía sau lưng ném ly thủy tinh vào phòng trọ nhưng không rõ có trúng T1 không, thấy bị cáo đánh T1, V bước tới ôm hai tay bị cáo kéo ra, bị cáo và V dằn co ra tới cửa chính thì bị cáo dùng tay xô V té xuống nền gạch, tiếp đó bị cáo đứng bên hông V dùng chân phải đạp từ trên xuống vào người ông V hai, ba cái liên tiếp. Thấy D cầm vỏ chai bia rượt T1 đuổi ra cửa sau, bị cáo ngưng đạp V đuổi theo D để can ngăn.
Bị haị ông D Thành T1 khai: Khoảng 18 giờ ngày 05/3/2019 ông và V (phụ lơ) dọn dẹp phòng trọ thì Th, S1 và một số người khác đi vào phòng, Th chỉ vào ông nói “ tụi bây đứa nào kêu chặn xe em tao” ông trả lời “ tôi chạy xe trên đây đâu có biết gì đâu”, Th liền xông tới dùng tay trái đánh vào sườn phải một cái rồi vật ông té ngã, lúc này V la lên “tụi mày làm gì đánh thằng T1 vậy” ; lúc này Th đang đè tôi xuống thì có người (không xác định là ai) dùng vỏ chai đánh trúng đầu, thấy có người đến can ngăn ông bỏ chạy ra cửa sau chạy vòng ra bãi đậu xe trước nhà trọ thì bị một thanh niên mặc áo thun màu đỏ trong nhóm của Th cầm 02 vỏ chai bia đuổi theo, được một đoạn thì đuổi kịp đánh trúng đầu ông một cái, thì S1 đến can ngăn, ông bỏ chạy vào phòng trọ của tài xế xe Cà Mau và bất tỉnh tại đây, sau đó được đưa đến bệnh viện.
Bị hại Lê Thanh V có lời khai: Khoảng 18 giờ ngày 05/3/2019 ông và T1 chuẩn bị dọn cơm ăn thì có nhiều người thanh niên lạ mặt đến phòng trọ tìm T1 để đánh. Lúc đầu những người này dùng tay không đánh T1, sau đó có người nhặt lấy vỏ chai bia, ly thủy tinh có sẵn trong phòng trọ do chưa dọn dẹp chỗ nhậu đánh trúng đầu T1 chảy máu. Ông vào ôm can người thanh niên đang đánh T1 thì bị người này dùng chân đạp vào người ông văng trúng vách tường té xuống nền gạch, tiếp đến người này đạp nhiều cái vào sườn, bụng, ngực, thấy T1 bỏ chạy thì mới ngưng đánh ông và đuổi theo T1 ra ngoài, những người còn lại cũng đuổi theo, một lúc sau thấy T1 chạy vào phòng trọ kế bên trốn và nằm bất tỉnh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Mai Ngọc S1 khai: Khoảng 18 giờ ngày 05/3/2019 sau khi nhậu cùng Th, D, Du tại quán Song Hân, tất cả lấy xe đi về thì nghe Th nói “ để chạy lên bến xe kiếm mấy thằng này nói chuyện”, biết Th muốn tìm L3, T1 là taì xế, lơ xe Tấn Tài để đánh nhau vì đã từng nghe Th nói về mâu thuẫn trong việc chạy xe khách, nên ông điều khiển xe SH chở D (do D ngồi sẵn trên xe để quá giang về nhà) chạy theo Th để can ngăn, không rõ Th có rủ D hay không, còn Du cũng một mình điều khiển xe chạy theo. Khi đến phòng trọ của T1 tại bến xe thấy T1 và V đang đứng trong phòng, Th xuống xe bước vào trong hỏi T1 “ sao mày gài đánh em tao” vừa nói xong Th dùng tay đánh nhiều cái vào mặt T1 và câu vật T1 té xuống nền gạch gần cửa sau, tôi bước vào phòng định can ngăn thì D từ phía sau lưng cầm ly thủy tinh đánh một cái vào đầu T1 chảy máu nên ông ôm D can ngăn, T1 bỏ chạy ra phòng trọ kế bên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Trọng Ngh (Du) khai: Sau khi nhậu xong với Th, D, S1, chị Trâm tại quán Sông Hân, chuẩn bị ra về, lúc này ông không nhớ Th hay D rủ đi lên bến xe có công chuyện, nghĩ rủ đi nhậu tiếp nên ông không hỏi. Sau đó Th một mình điều khiển xe chạy trước, S1 chở D chạy sau, ông cũng một mình điều khiển xe chạy theo cả ba. Khi đến dãy phòng trọ bên trái của bến xe nghe có tiếng la và nhiều người tập trung, ông bước vào thấy D đang dùng tay đánh người thanh niên dáng lùn không mặc áo, đang nằm ngửa, trên đầu chảy nhiều máu, xung quanh có nhiều mảnh vở ly thủy tinh, chai bia. Phía bên phải Th và S1 đang đứng gần nhau, gần đó có một người đàn ông dáng người ốm đang nằm trên nền gạch đang bị đánh nhưng không nhớ rõ bị đánh như thế nào, ai đánh. Ông liền kéo D ra ngoài phòng trọ thì người thanh niên bị D đánh bỏ chạy ra ngoài, D thoát ra đuổi theo, khi đến bãi đậu xe trước dãy phòng trọ ông thấy D định đánh người thanh niên bị đánh lúc trước thì Th, S1 can và đưa D lên xe cho S1 chở về.
Người làm chứng Cao Văn M1 khai: Khoảng 18 giờ ngày 05/3/2019 ông đang đậu xe trước cổng bến xe Châu Đốc thì thấy 03 thanh niên đi trên 02 xe mô tô từ hướng cầu Kinh Đào chạy vào bến xe Châu Đốc, trong đó có 01 thanh niên (không biết tên) chạy xe mô tô loại xe số đến trước, theo sau là S1 chạy xe tay ga chở D, vừa đi D vừa la “ quay vô đây đánh chết mẹ thằng này”. Biết nhóm D đến bến xe Châu Đốc đánh nhau nên ông điều khiển xe chạy theo họ để can ngăn. Nhóm của D đến dãy phòng trọ của tài xế xe khách ở trong bến xe, D đi cùng một người vào bên trong phòng trọ, sau đó nghe tiếng vở thủy tinh và tiếng rầm rầm bên trong, ông xuống xe đi vào để can ngăn thì thấy 01 thanh niên dáng lùn, không mặc áo nằm trên nền gạch gần cửa sau, vùng đầu chảy nhiều máu, xung quanh có nhiều mãnh vở chai bia và ly thủy tinh.
Người làm chứng ông Trần Văn S khai: Khoảng 18 giờ 20 ngày 05/3/2019 ông đang ngồi trước cửa phòng trọ của ông tại bến xe Châu Đốc thì thấy có 03 thanh niên đi trên 03 xe mô tô từ hướng cổng phụ bến xe chạy vào dãy phòng trọ của các nhà xe thuê cho tài xế ở. Sau đó ông nghe tiếng kêu la trong phòng của tài xế xe Tuấn Tài, ông đến xem thì thấy T1 nằm co người dưới nền gạch gần cửa sau , vùng đầu bị chảy máu , trước mặt có nhiều mãnh ly vở, chai bia, còn V đứng sát tường trong tư thấy co rút, hai tay che mặt. Thấy T1 bị thương tích mà D vẫn đánh, ông la lên, D quay lại nhìn ông rồi chụp lấy vỏ chai bia, sợ D đánh luôn ông nên ông kêu T1, V bỏ chạy, ông cũng chạy ra ngoài. Ông chạy ra bãi đậu xe thì thấy T1 cũng chạy ra bãi đậu xe, D cầm vỏ chai bia đuổi theo T1, 02 người thanh niên mặc áo đen và xanh chạy theo D. Khi đến bãi đậu xe D đuổi kịp T1 và cầm vỏ chai bia đánh trúng đầu T1 thì được Th và thanh niên mặc áo đen còn lại can ngăn, nhóm D lên xe bỏ đi.
Người làm chứng Nguyễn Thị Hồng Th1 khai: Khoảng 18 giờ ngày 05/3/2019 bà đang ở phòng trọ thì nghe có tiếng đánh bịch bịch bên phòng của T1 ở cặp vách phòng , bà bước ra ngoài thì thấy T1 đang đứng ở bãi đậu xe bị một thanh niên mặc áo đỏ dùng vỏ chai bia đánh từ trên xuống trúng đầuT1 làm bể vỏ chai, sau đó T1 bỏ chạy vào phòng trọ của tôi trốn và nằm bất tỉnh, trên đầu chảy nhiều máu, ba thanh niên khác đi theo khuyên can thì nhóm thanh niên này bỏ đi, mọi người đưa T1 đi bệnh viện, khi đưa T1 lên xe bà nhìn thấy V ngồi gục dưới đất dựa vào bậc thềm trước phòng trọ của T1, bà kêu mọi người đến đưa đi bệnh viện.
Cáo trạng số 88/CT-VKS-CĐ ngày 31/10/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố: Bị cáo Mai Ngọc Th và Nguyễn Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích” (dẫn đến chết người) quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Các bị cáo Mai Ngọc Th và Nguyễn Hoàng D đều khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng truy tố.
Bà Mai đại diện cho bị hại V: Yêu cầu các bị cáo bồi thường 112.000.000 đồng gồm: chi phí điều trị, tiền xe đi lại, ma chay, mất thu nhập của bị hại và người nuôi bệnh trong thời gian nằm viện, tổn thất tinh thần, cấp dưỡng nuôi con bị hại, … trong đó tiền cấp dưỡng nuôi con bị hại V là 50.000.000 đồng.
Bị hại T1 có lời khai như trong quá trình điều tra, xác định đã nhận 3.000.000 đồng từ phía gia đình bị cáo Th bồi thường tiền thuốc, không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm.
Bị cáo Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Tường V (vợ bị cáo) đồng ý bồi thường cho bị hại V thêm số tiền 112.000.000 đồng là dứt điểm như đại diện bị hại yêu cầu.
Bị cáo D khai có tác động gia đình nộp thêm 5.000.000 đồng cùng bị cáo Th bồi thường cho bị hại đồng thời xin lỗi bị hại T1 và gia đình ông V, không yêu cầu nhận lại quần, áo bị thu giữ khi thực hiện hành vi phạm tội.
Các bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, do các bị cáo hiện tại là lao động, có con còn nhỏ.
Trong phát biểu luận tội, Kiểm sát viên trình bày:
Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng cũng như vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu, nguồn chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, đủ căn cứ chứng minh các bị cáo không duyên cớ cùng có hành vi dùng tay và ly thủy tinh, chai bia là loại hung khí nguy hiểm và dùng tay, chân gây thương tích cho V 58% điều trị không hồi phục dẫn đến chết sau điều trị không hồi phục, gây thương tích cho T1 8%. Khẳng định Cáo trạng số 88/CT-VKS-CĐ ngày 31/10/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với các bị cáo về tội „Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo.
Hành vi của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, mang tính nguy hiểm cao cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Th chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo D có nhân thân xấu chưa được xóa án tích về tội cố ý gây thương tích. Các bị cáo cùng tham gia thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm giản đơn.
Vì vậy cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để xử lý:
Bị cáo Th là người bắt nguồn sự việc, rủ rê bị cáo D tham gia gây thương tích cho T1, khi đến gặp T1 bị cáo Th dùng tay đánh vào vùng mặt, V vào can ngăn thì đẩy V té và dùng chân đạp nhiều cái vào người V, trực tiếp gây thương tích cho V với tỷ lệ thương tật 58% điều trị không hồi phục dẫn đến chết người sau khi điều trị không hồi phục, rủ rê D gây tích cho T1 với tỷ lệ thương tật 8%.
Bị cáo D sau khi được bị cáo Th rủ rê tìm T1 nói chuyện, hiểu được ý định của bị cáo Th là đánh nhau, bị cáo D vẫn đồng ý đi theo giúp sức cho Th. Bị cáo là người trực tiếp cùng Th đánh T1, bị cáo dùng dùng ly thủy tinh và vỏ chai bia đánh vào vùng đầu gây thương tích cho T1 với tỷ tật thương tật 8%. Khi đánh T1 bị cáo thấy Th đánh V mà không có hành động can ngăn, tiếp nhận, đồng ý với bị cáo Th trong việc bị cáo Th đánh gây thương tích cho V. Bị cáo là người trực tiếp gây nên thương tích cho T1, thực hiện vai trò đồng phạm giúp sức, hun đúc tinh thần cho bị cáo Th thực hiện hành vi. Vì vậy cần cá thể hóa về vai trò, trách nhiệm của bị cáo đối với hành vi mà bị cáo thực hiện, áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo nhưng thấp hơn mức hình phạt của bị cáo Th.
Trong quá trình lượng hình, đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét đối với các bị cáo về sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; riêng bị cáo D bản thân là quân nhân xuất ngũ; cả hai phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội có tính chất côn đồ, riệng bị cáo D có tiền án về tội này chưa xóa án tích là tình tiết tăng nặng tái phạm.
Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có 02 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo Th có đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng, nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật. Đối với bị cáo D tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, vai trò không đáng kể trong việc đánh gây thương tích và dẫn đến cái chết của bị hại V nên được áp dụng tương tự khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật.
Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Th từ 5 đến 6 năm tù.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d, h khoản 1 Điều 52; Điểu 53; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ do không còn giá trị sử dụng; lưu hồ sơ 01 đĩa DVD bên trong lưu đoạn video ghi lại hình ảnh bị cáo D dùng vỏ chai bia đánh T1 tại bến xe châu Đốc vào ngày 05/3/2019.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo và đại diện của bị hại V, các bị cáo có trách nhiệm bồi thường thêm cho các thừa kế bị hại V ( có bà Mai đại diện hợp pháp, theo ủy quyền và là giám hộ cho cháu Lê Tuấn K1) số tiền còn lại 62.000.000 đồng gồm tất cả các khoản chi phí và cấp dưỡng một lần 50.000.000 đồng để bà Mai nuôi dạy cháu Lê Tuấn K1, sinh này 09/7/2019.
Đối với Mai Ngọc S1, Nghuyễn Trọng Ngh (Du) có hành vi đi cùng các bị cáo đến bến xe Châu Đốc không tham gia đánh nhau, Cơ quan diều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp, cần giáo dục công khai tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng,
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh An Giang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người làm chứng không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện.
Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, một số người làm chứng vắng mặt. Xét, những người làm chứng vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và họ không có yêu cầu nào khác đối với bị cáo nên việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về nội dung,
Hành vi phạm tội:
Lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định: Khoảng 18 giờ, ngày 05/3/2019 Mai Ngọc Th và Mai Ngọc S1 (anh ruột Th), Nguyễn Hoàng D, Nguyễn Trọng Ngh (Du) lúc cùng uống rượu tại quán “Song Hân” chuẩn bị về, Th kể lại mâu thuẫn giữa Phan Thành T1 và Mai Ngọc Th2 (em ruột Th), D và S1 đều biết là đi đến bến xe Châu Đốc (nơi T1 đang trọ: Tổ 20, khóm Mỹ Th, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang) để giải quyết mâu thuẫn với Phan Thành T1, tất cả cùng đi.
Đối với bị cáo Th khai nhận, khi đến phòng trọ bị cáo dùng tay phải đánh T1 trước do V can ngăn trong lúc dằn co bị cáo dùng tay xô V té và dùng chân phải đạp từ trên xuống nhiều cái liên tiếp, dẫn đến bị hại V chết sau điều trị không hồi phục . Bị cáo thấy bị cáo D rượt đuổi T1 dùng vỏ chai bia vung đánh T1.
Đối với bị cáo D khai nhận dùng ly thủy tinh và vỏ chai bia gây thương tích cho bị hại T1 tại vết thương đỉnh trái, theo tỷ lệ thương tật gây ra là 8%.
Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, tại phiên tòa với với các nguồn chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra và được thẩm tra tại phiên tòa cùng lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng, kết quả trích xuất camera, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản giám định pháp y, vật chứng thu giữ cũng như những tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ kết luận: Việc các bị cáo gây thương tích cho V với tỷ lệ thương tật được xác định là 58% và T1 là 8% mục đích gây thương tích để đánh dằn mặt.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác. Đồng thời, công cụ mà bị cáo D sử dụng gây thương tích cho bị hại là loại hung khí nguy hiểm được pháp luật ghi nhận.
Quyền được an toàn về sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của công dân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đối với những người xâm phạm đến sức khỏe người khác một cách trái pháp luật, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất, là hình phạt.
Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố các bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về đồng phạm:
Xét hành vi từng bị cáo khi thực hiện, bị cáo Th là người rủ bị cáo D đến bến xe Châu Đốc mục đích đánh để dằn mặt với đối tượng là T1, cả hai đều là người thực hành. Hành vi của hai bị cáo thể hiện ý chí đánh nhau, khi đến bị cáo Th hỏi xong là dùng tay đánh T1 trước, bị cáo D đến nhìn thấy thì dùng ly thủy tinh đánh vào đầu, sau đó rượt đuổi đánh T1 bằng vỏ chai bia, kết quả giám định tỷ lệ thương tổn cơ thể của T1 là 8%. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với thương tích gây ra cho bị hại T1.
Còn đối với bị cáo Th là người thực hiện hành vi đánh V khi V tới cản ngăn việc đánh T1, bị cáo dùng chân đạp nhiều cái từ trên xuống vào người V bị cáo D quay sang nhìn thấy nhưng không có hành động can ngăn mà mặc nhiên để Th thực hiện hành vi, kết quả giám định tỷ lệ thương tổn cơ thể của V là 58% dẫn đến hậu quả bị hại V chết sau điều trị không phục hồi; hành vi của bị cáo Th là nguy hiểm hơn.
Các bị cáo nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Bên cạnh đó, giữa các bị cáo với bị hại hoàn toàn không có mâu thuẫn nhau, chỉ nghe nói T1 hăm dọa đánh Th2 (em bị cáo) mà bị cáo Th muốn tìm T1 đánh. Lẽ ra, khi bị cáo Th bực tức rủ tìm đánh T1 thì bị cáo D phải can ngăn thì không xảy ra hành vi phạm tội.
Khi thực hiện hành vi các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công, mang tính tự phát nên xét về tính chất, mức độ thuộc đồng phạm giản đơn.
Do đó, cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để xem xét mức hình phạt tương xứng đối với từng bị cáo như phát biểu luận tội của kiểm sát viên. Bị cáo Th phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo D.
Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Nhận thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải, đầu thú và đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại V và đại diện cho bị hại V xin giảm nhẹ hình phạt; về nhân thân các bị cáo thuộc thành phần lao động, bị cáo Th không có tiền án, tiền sự, bị cáo D có thời gian phục vụ trong quân đội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét trong khi lượng hình đối với các bị cáo.
Về tình tiết tang nặng các bị cáo vô cớ gây thương tích cho bị hại nên chịu tình tiết tang nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tính côn đồ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo D có tiền án về tội cố ý gây thương tích chưa được xóa án tích nên phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
Bà Huỳnh Thị M chung sống với bị hại Lê Thanh V có đăng ký kết hôn; quá trình chung sống có 02 con chung tên Lê Anh K, sinh năm 1999 và Lê Tuấn K1, sinh ngày 09/7/2010 hiện đang sống cùng bà Mai, bị hại V còn cha ruột tên Lê Văn T, sinh năm 1945; bà Mai nhận giám hộ cho cháu Lê Tuấn K1, riêng cháu Lê Anh K và ông T ủy quyền cho Mai tham gia vụ án.
Theo đơn, bà Mai yêu cầu các bị cáo bồi thường các khoản: Chi phí điều trị, tiền mất thu nhập của bị hại V, người nuôi bệnh trong thời gian điều trị, chi phí đi lại, thuê xe, mai táng, tổn thất về tinh thần… tổng cộng 256.597.000 đồng và khoản tiền cấp dưỡng nuôi cháu Lê Tuấn K1, sinh ngày 09/7/2010 cho đến khi đủ 18 tuổi.
Tại phiên tòa bà Mai xác định đã thỏa thuận mức bồi thường thông qua vợ bị cáo Th là bà Nguyễn Thị Tường V và bà đã nhận từ V số tiền 150.000.000 đồng, còn lại 112.000.000 đồng, trong đó có tiền cấp dưỡng một lần để bà nuôi dạy cháu Lê Tuấn K1 là 50.000.000 đồng. Các bị cáo đồng ý với mức bồi thường theo thỏa thuận này, riêng bị cáo D thông qua gia đình đã nộp 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án để tiếp tục khắc phục cho gia đình bị hại V.
Do đó công nhận sự thỏa thuận này, các bị cáo có trách nhiệm bồi thường và cấp dưỡng nuôi cháu Lê Tuấn K1 số tiền còn lại 112.000.000 đồng cho các thừa kế của bị hại Lê Thanh V do bà Mai đại diện nhận.
Bị hại T1 xác định trong quá trình điều tra đã nhận 3.000.000 đồng chi phí điều trị do gia đình bị cáo Th giao, không có yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy các vật thu giữ không còn giá trị, không sử dụng được gồm: 01 mảnh vỡ thủy tinh màu nâu, có dán chứ Sai Gon Export; 01 ly thủy tinh trong suốt, gãy mất phần tay cầm, nhiều mảnh vỡ bằng thủy tinh trong suốt; 01 áo thun ngắn tay màu đen, ngực áo màu xám; 01 quần jean dài, màu xanh; 01 áo thun ngắn tay màu đen, ngực áo có chữ Let‟s get weird nhiều màu sắc; 01 quần lửng màu xanh; 01 áo thun ngắn tay màu đỏ, vai áo có viền trắng, cổ tròn; 01 quần thun ngắn màu đen, viền đỏ mặt trước bên trái.
- Lưu hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD có chữ ký tên Hồ Nguyễn Quốc Trung, bên trong lưu đoạn video ghi hình ảnh Nguyễn Hoàng D dùng vỏ chai bia đánh Phan Thành T1 tại bến xe Châu Đốc ngày 05/3/2019.
Theo quy định tại các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2016 0005522, ngày 20/11/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc do bị cáo D nộp để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí: Các bị cáo phải án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Mai Ngọc Th và Nguyễn Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[1] Xử phạt: Mai Ngọc Th 05 (năm) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 06/3/2019.
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm d, h khoản 1 Điều 52, Điều 53, khoản 2 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2] Xử phạt Nguyễn Hoàng D 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 06/3/2019.
Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
[3] Tịch thu tiêu hủy:
- 01 mảnh vỡ thủy tinh màu nâu, có dán chứ Sai Gon Export;
- 01 ly thủy tinh trong suốt, gãy mất phần tay cầm,
- Nhiều mảnh vỡ bằng thủy tinh trong suốt;
- 01 áo thun ngắn tay màu đen, ngực áo màu xám, đã qua sử dụng;
- 01 quần jean dài, màu xanh đã qua sử dụng;
- 01 áo thun ngắn tay màu đen, ngực áo có chữ Let‟s get weird nhiều màu sắc, đã qua sử dụng;
- 01 quần lửng màu xanh đã qua sử dụng;
- 01 áo thun ngắn tay màu đỏ, vai áo có viền trắng, phái sau cổ áo có hàng chữ NIKE PRO đã qua sử dụng;
- 01 quần thun ngắn màu đen, có viền đỏ, mặt trước bên trái có chữ Recbok màu đỏ đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 10 năm 2019 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
[4] Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2016/0005522, ngày 20/11/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc để đảm bảo việc thi hành án.
Căn cứ các Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
[5] Công nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo Mai Ngọc Th, Nguyễn Hoàng D với bà Huỳnh Thị M:
Các bị cáo Mai Ngọc Th và Nguyễn Hoàng D có trách nhiệm bồi thường cho các thừa kế của bị hại Lê Thanh V và cấp dưỡng một lần nuôi cháu Lê Tuấn K1, sinh ngày 09/7/2010 với tổng số tiền 112.000.000 (một trăm mười hai triệu) đồng do bà Huỳnh Thị M đại diện nhận.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Căn cứ Điều 135, 136, 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
[6] Buộc bị cáo Mai Ngọc Th và Nguyễn Hoàng D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và liên đới chịu 5.600.000 (năm triệu sáu trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND thành phố (2); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Chi cục THADS thành phố (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Phạm Thị Bích Thủy |