vanban.org

Bản án 94/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 23/07/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/07/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q và Trương Xuân T phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Văn Q – 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, tổng hợp hình phạt 07 năm 06 tháng tù của b n án số 36/2018/HS-ST ngày 04-10-2018 của TAND thị xã K về tội “Cướp tài s n”, bị cáo ph i chấp hành hình phạt hai b n án là 15 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 24-5-2018). Xử … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q và đồng phạm phạm tội "Cướp tài sản" năm 2019 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q và Trương Xuân T phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án số: 94/2019/HS-PT
Ngày: 23-7-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tr n H ng H i

Các thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Bích Đào

Bà Trương Thị Lệ Thu

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Nữ Ngọc Diệp – Thư ký T a án nhân dân t nh Hà T nh

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh: Ông Lê Quang Phiệt.

Ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân t nh Hà T nh mở phiên t a công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2019/HSPT ngày 04-6-2019.

Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, Trương Xuân T

Đối với b n án HSST số 13/2019/HSST ngày 25-4-2019 của T a án nhân dân huyện K, t nh Hà T nh.

* Bị cáo kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn Q; giới tính: nam; sinh ngày: 01-02-1994; nơi sinh và nơi cư trú: Tổ dân phố 1, phường S, thị xã K, t nh Hà T nh; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: lái xe; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1970 và con bà Nguyễn Thị L; vợ: Tr n Thị Huyền T, sinh năm: 1992, con: có 01 con, sinh năm: 2012; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Hà theo B n án HSST số 36/2018/HSST ngày 04-10-2018 của T a án nhân dân thị xã K, t nh Hà T nh. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Q: ông Lê H và ông Nguyễn Đình G, Luật sư Văn ph ng Luật sư Lê H thuộc Đoàn luật sư t nh Hà T nh, địa ch : Số 363, đường Nguyễn D, thành phố H, t nh Hà T nh, có mặt.

2. Họ và tên: Trương Xuân T; giới tính: nam; sinh ngày: 10-10-1991; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện K, t nh Hà T nh; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Công V, sinh năm: 1961 và con bà Võ Thị H, sinh năm: 1961; vợ: Phạm Thị L, sinh năm; 1989; con: có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: TAND huyện Đăktô, t nh Kontum xử phạt 10 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tại b n án số 07/2014/HSST ngày 27-3-2014, đã được xóa án tích. Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Hà theo b n án HSST số 36/2018/HSST ngày 04-10-2018 của T a án nhân dân thị xã K, t nh Hà T nh. Có mặt.

* Bị hại: Anh Kim Văn Q, sinh năm: 1987; địa ch : Xóm B, xã C, huyện Q, t nh Nghệ An, vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Hoàng Thị L, sinh năm: 1981, địa ch : Thôn L, xã K, huyện K, t nh Hà T nh, có mặt;

- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm: 1965, địa ch : Thôn T, xã K, huyện K, t nh Hà T nh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo B n án hình sự sơ thẩm, các bị cáo: Nguyễn Văn Q, Trương Xuân T bị T a án nhân dân huyện K, t nh Hà T nh xét xử về hành vi phạm tội như sau:

Kho ng 22 giờ 30 phút ngày 13-5-2018, do c n tiền để chuộc lại điện thoại ở quán ăn đã c m cố trước đó, Nguyễn Văn Q đã bàn với Trương Xuân T chặn xe để lấy tiền. Sau khi bàn bạc, thống nhất, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu đỏ - đen, BKS 38K2-4320 mượn của chị Hoàng Thùy L chở T ng i sau, chạy trên đường Quốc lộ 12 theo hướng đi lên đường tránh 1B. Sau đó, Q rẽ vào Ga ra ô tô Trúc H của anh Nguyễn Văn S, trú tại: xã K, huyện K, t nh Hà T nh lấy 01 con dao tự chế dài kho ng 40cm, cán bằng gỗ màu nâu, ph n lưỡi dao làm bằng tôn cứng dài kho ng 30cm, ph n mũi dao hơi nhọn, sống và lưỡi dao bằng, không sắc, dùng cạo tét gh . Sau đó, Q điều khiển xe đi lên xã K, đến g n v ng xuyến giao giữa Quốc lộ 12C và đường tránh 1B. Khi cách v ng xuyến 100m, Q thấy xe ô tô t i BKS 51C-65230, màu trắng do anh Kim Văn Q, sinh năm: 1987, trú tại xã C, huyện Q, t nh Nghệ An điều khiển, trên xe còn có anh Trương Văn T, sinh năm 1986, trú tại xã T, huyện Q, t nh Nghệ An, ng i bên ghế phụ, đi trên Quốc lộ 1B theo hướng Bắc vào Nam. Q điều khiển xe chạy lên phía trước đ u xe t i, lạng lách, ép xe buộc anh Q dừng xe. Q c m dao tự chế đến chỗ cửa xe bên lái, giật cửa nhưng không được và xin anh Q 200.000 đ ng. Anh Q ra hiệu ch có 100.000 đ ng và mở hé cửa chắn gió bên lái đưa tiền ra ngoài cho Q. Q đưa dao và tiền cho T. T ra hiệu cho xe ô tô t i chạy đi. Q điều khiển xe chở T về quán S lươn để tr tiền và lấy lại điện thoại. Con dao T đã ném xuống bên lề đường g n gara ô tô Trúc Huế. Sau khi bị lấy tiền, anh Q đã báo cơ quan C nh sát điều tra Công an huyện K tiến hành điều tra bắt giữ.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại b n án HSST số 13/2019/HS-ST ngày 25-4-2019 của TAND huyện K đã căn cứ điểm d kho n 2 Điều 168; điểm s kho n 1 Điều 51; Điều 17, 56, 58; điểm b kho n 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b kho n 2 Điều 106; kho n 2 Điều 136; Điều 331; kho n 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 6; điểm a kho n 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30-12-2016.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q và Trương Xuân T phạm tội “Cướp tài s n”.

Xử phạt Nguyễn Văn Q 07 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt 07 năm 06 tháng tù của b n án số 36 ngày 04-10-2018 của TAND thị xã K về tội “Cướp tài s n”, bị cáo ph i chấp hành hình phạt hai b n án là 15 năm tù.

Xử phạt Trương Xuân T 07 năm tù, tổng hợp hình phạt 07 năm tù của b n án số 36 ngày 04-10-2018 của TAND thị xã K về tội “Cướp tài s n”, bị cáo ph i chấp hành hình phạt hai b n án là 14 năm tù.

Án c n tuyên về biện pháp tư pháp, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Tại phiên t a phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, cho rằng các bị cáo không phạm tội cướp tài s n mà ch phạm tội cưỡng đoạt tài s n, đề nghị Hội đ ng xét xử gi i quyết theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Q cho rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q và Trương Xuân T có dấu hiệu của tội cưỡng đoạt tài s n là thuyết phục hơn so với tội cướp tài s n bởi vì các bị cáo mới ch dùng dao đe dọa chứ chưa dùng vũ lực ngay tức khắc, các bị hại vẫn có thể lựa chọn cách xử sự hợp lí tức là chưa bị tê liệt ý chí trước hành vi đe dọa dùng vũ lực của các bị cáo. Mức hình phạt như phán quyết của T a án cấp sơ thẩm là quá cao trong khi số tiền các bị cáo chiếm đoạt ch 100 nghìn đ ng. Nếu tổng hợp hình phạt cùng vụ án trước đó của T a án nhân dân thị xã K thì tài s n các bị cáo chiếm đoạt là 200 nghìn đ ng nhưng mức hình phạt của 2 b n án là 15 năm tù là quá nặng, tương đương mức hình phạt của 01 vụ án giết người, x y ra hậu qu chết người. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm h kho n 1 Điều 51 BLHS cho hai bị cáo. Vì vậy, đề nghị gi m nhẹ hình phạt và tội danh cho hai bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Hà T nh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, luận cứ bào chữa của Luật sư đã đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng điểm a kho n 1 Điều 355, kho n 2 Điều 356 của BLTTHS, không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, Trương Xuân T, giữ nguyên b n án Hình sự sơ thẩm của TAND huyện K, t nh Hà T nh.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên t a; căn cứ vào kết qu tranh luận tại phiên t a trên cơ sở xem xét đ y đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Quá trình điều tra cũng như tại phiên t a sơ thẩm, phiên t a phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trương Xuân T hoàn toàn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong h sơ vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội cũng như hoàn toàn phù hợp với lời khai của nhân chứng. Sau khi xét xử sơ thẩm, b n án của T a án nhân dân huyện K không bị kháng nghị, các bị cáo kháng cáo xin thay đổi tội danh và gi m nhẹ hình phạt. Do đó, cấp phúc thẩm sẽ xem xét, đánh giá khách quan toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo để lên một mức án phù hợp với tội danh, tính chất, mức độ hành vi các bị cáo đã thực hiện.

. Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Văn Q và Trương Xuân T đã bàn bạc với nhau về việc chặn xe của người đi đường để xin tiền. Khi thấy xe ô tô t i BKS 51C-65230, màu trắng do anh Kim Văn Q điều khiển đi trên Quốc lộ 1B theo hướng Bắc vào Nam, các bị cáo sử dụng dao tự chế, chặn đ u xe, ép buộc lái xe ph i dừng xe đưa tiền. Về mặt chủ quan, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích là chiếm đoạt tiền của người khác để về chuộc lại điện thoại, sử dụng cho mục đích cá nhân. Về hành vi khách quan, trong không gian đêm khuya, đường vắng, các phương tiện tham gia giao thông hạn chế, việc các bị cáo dùng dao đe dọa và chặn đ u xe, đu người lên phía cửa lái yêu c u lái xe đưa tiền đã làm người bị hại ngay lập tức bị khống chế về tinh th n; bị hại không thể tiến cũng như lùi xe mà ph i chấp nhận thực hiện theo yêu c u của Q và T. Đó là hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc và người bị hại lâm vào tình thế bị uy hiếp về mặt tinh th n, không có sự lựa chọn nào khác là ph i đưa tiền cho bị cáo để b o vệ tính mạng và tài s n của mình. Hành vi đó đã cấu thành tội cướp tài s n như phán quyết của T a án cấp sơ thẩm là đúng tội danh. Bị cáo và Luật sư bào chữa cho rằng hành vi của Nguyễn Văn Q và Trương Xuân T ch phạm vào tội “cưỡng đoạt tài s n” là không có cơ sở nên Hội đ ng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.

Tại phiên t a phúc thẩm, Luật sư đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng thêm tình tiết gi m nhẹ TNHS quy định tại điểm h kho n 1 Điều 51 BLHS “gây thiệt hại không lớn” cho các bị cáo. Tuy nhiên, đối với tội danh “Cướp tài s n”, c n ph i xác định ngoài thiệt hại về vật chất c n ph i tính đến thiệt hại về tinh th n do hành vi phạm tội của bị cáo tác động đến bị hại. Do đó, hành vi của bị cáo Q và T không được áp dụng tình tiết gi m nhẹ TNHS quy định tại điểm h kho n 1 Điều 51 BLHS như đề nghị của Luật sư. Vấn đề này là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn xét xử đối với loại tội phạm có tính chất nghiêm trọng như tội cướp tài s n đ ng thời cũng thể hiện chế tài xử lý nghiêm khắc từ đó nâng cao biện pháp ph ng ngừa đối với loại tội phạm này. Tuy nhiên, các bị cáo ra đ u thú nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng kho n 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có thiếu sót nên cấp phúc thẩm thấy rằng c n áp dụng thêm khỏan 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo Q và T.

Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài s n của công dân được pháp luật b o vệ, gây tâm lý lo lắng, bất an trong qu n chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Do đó, một mức án nghiêm khắc là c n thiết để nâng cao tính giáo dục, răn đe và ph ng ngừa chung.

Các bị cáo bị T a án cấp sơ thẩm xét xử tại điểm d kho n 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự do sử dụng dao tự chế để uy hiếp tinh th n của bị hại có khung hình phạt từ 7 đến 15 năm tù. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Q 7 năm 6 tháng tù, bị cáo T 7 năm tù là đã xem xét đến động cơ, mục đích phạm tội cũng như giá trị tài s n chiếm đoạt của bị cáo để lên mức án thấp nhất của khung hình phạt. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Hà T nh đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo, giữ nguyên quyết định của b n án sơ thẩm là phù hợp nên kháng cáo của các bị cáo và đề nghị của Luật sư xin gi m nhẹ hình phạt cho các bị cáo không có cơ sở nên cấp phúc thẩm không chấp nhận.

Các bị cáo kháng cáo ph i chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, Trương Xuân T. Giữ nguyên b n án sơ thẩm số số 13/2019/HS-ST ngày 25-4-2019 của T a án nhân dân huyện K, t nh Hà T nh.

2. Áp dụng điểm d kho n 2 Điều 168; điểm s kho n 1, 2 Điều 51; Điều 17, 56, 58; điểm b kho n 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b kho n 2 Điều 106; kho n 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q và Trương Xuân T phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Văn Q – 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, tổng hợp hình phạt 07 năm 06 tháng tù của b n án số 36/2018/HS-ST ngày 04-10-2018 của TAND thị xã K về tội “Cướp tài s n”, bị cáo ph i chấp hành hình phạt hai b n án là 15 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 24-5-2018).

Xử phạt Trương Xuân T - 07 (bảy) năm tù, tổng hợp hình phạt 07 năm tù của b n án số 36/2018/HS-ST ngày 04-10-2018 của TAND thị xã K về tội “Cướp tài s n”, bị cáo ph i chấp hành hình phạt hai b n án là 14 năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 24-5-2018).

3. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; kho n 2 Điều 21, điểm a kho n 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trương Xuân T mỗi người ph i chịu 200.000 đ ng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ