vanban.org

Bản án 94/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Tuyên án 28/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 27 tháng tù, thời hạn được tính kể từ ngày bắt tạm giam 30/5/2018. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn S phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích khoản 3 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2018/HS-ST
Ngày 28 - 9 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Quốc Huy

Bà Phạm Thị Chuộng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Nên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện K xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Phạm Văn S, sinh năm 1990. Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn S và bà Nguyễn Thị H; Có vợ: Mạc Thị N và có một con, sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 46/2011/HSST ngày 26/8/2011 của TAND huyện K xử phạt S 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 24/11/2011 S chấp hành xong án phí, ngày 26/8/2013 chấp hành xong hình phạt tù cho hưởng án treo.

Hiện bị cáo đang bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 30/5/2018 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Anh H, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương.

Vắng mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

1. Ông Phạm Văn S, sinh năm 1962

2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964

3. Chị Mạc Thị N, sinh năm 1989

Đều có địa chỉ: Thôn Hiệp H, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương.

Đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 21/01/2018, Phạm Văn S đang ở nhà thì có Nguyễn Anh H ở cùng thôn đến để đòi tiền S nợ từ trước, thấy bố đẻ S là ông Phạm Văn Sinh ra mở cổng, S đi theo sau. Khi S vừa ra đến cổng thì H chửi đồng thời dùng tay phải đấm vào mặt S, S lùi lại bị ngã ra sân. Thấy vậy ông Sinh, bà Nguyễn Thị H (mẹ S) và chị Mạc Thị Nhã (vợ S) vào can ngăn và đẩy H ra cổng nhưng H vẫn đòi lao vào đánh S. Lúc này S vào hiên nhà lấy con dao nhọn bằng kim loại, chuôi bằng nhựa màu đen dài khoảng 15cm, rộng khoảng 4cm (loại dao gọt hoa quả) đem ra thấy H tiếp tục lao vào đánh S, S đã dùng dao có đặc điểm như trên đâm H một nhát vào ngực bên trái, H dùng chân đạp S một cái làm S bị ngã ra sân rồi H bỏ chạy ra ngoài đường được khoảng 10m thì bị gục ngã xuống đường. Sau đó S bỏ chạy ra cánh đồng thôn Hiệp Hạ, xã H, huyện K vứt con dao trên ở ruộng hành rồi bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 28/02/2018 S đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đầu thú, trong thời gian trốn S không vi phạm pháp luật gì.

Ngay sau khi Nguyễn Anh H bị thương được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện K cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương điều trị đến ngày 05/02/2018 ra viện. Tại giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện đa khoa huyện K và Bệnh án ngoại của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương chứng nhận thương tích của H gồm: vết thương vùng ngực trái cách núm vú 2cm khoang liên sườn V, khoảng 2x1cm, gây thấu khoang ngực trái, làm rách nhu mô phổi trái, tràn máu, khí khoang màng phổi trái, gãy xương sườn số 4 bên trái.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 29/TgT ngày 08/3/2018 của Phòng giám định pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương, kết luận: Vết thương ngực trái gây thấu khoang ngực trái, rách nhu mô phổi trái, tràn máu, khí khoang màng phổi trái, gãy xương sườn số 4 bên trái, đã mổ xử lý. Hiện dày dính màng phổi, lớp dịch mỏng màng phổi trái. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật sắc nhọn gây nên. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 28%.

Đối với con dao có đặc điểm như trên sau khi sử dụng vào việc phạm tội bị cáo đã vứt đi, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận và bồi tH xong toàn bộ các khoản chi phí về viện phí, tiền thuốc, tiền bồi dưỡng sức khỏe cho Nguyễn Anh H. Nay Nguyễn Anh H không yêu cầu bị cáo phải bồi tH thiệt hại và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, thương tích của người bị hại, bản kết luận giám định pháp y về thương tích và các chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K thu thập được thể hiện có trong hồ sơ vụ án .

Tại cáo trạng số 96/CT-VKSKM ngày 05/9/2018, VKSND huyện K truy tố bị cáo Phạm Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Văn S vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Người bị hại giữ nguyên quan điểm xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự.

Vị đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn S từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn được tính từ ngày bắt tạm giam 30/5/2018.

Ngoµi ra quan ®iÓm ®¹i diÖn VKS cßn ®Ò nghÞ H§XX xem xÐt, gi¶i quyÕt về ¸n phÝ theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn tßa, c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ toµn diÖn c¸c chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Văn S vẫn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, thương tích của người bị hại, bản kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Nên có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ, ngày 21/01/2018, tại thôn Hiệp Hạ, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương, do mâu thuẫn cá nhân, Phạm Văn S có hành vi dùng dao nhọn dài khoảng 15cm, rộng khoảng 4cm là hung khí nguy hiểm đâm 01 nhát vào ngực trái Nguyễn Anh H, hậu quả H bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 28%. Do vậy, VKSND huyện K truy tố bị cáo Phạm Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn S là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo hộ, gây tâm lý lo lắng, làm ảnh hưởng xấu tới việc quản lý trị an tại địa phương. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng về hành vi và hậu quả của bị cáo gây ra mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Song cũng nên xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, cùng tác động tới gia đình tự nguyện bồi tH thiệt hại, khắc phục hậu quả cho anh H. Quá trình điều tra và đưa vụ án ra xét xử, anh H vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác, trong quá trình dẫn đến hành vi gây thương tích của bị cáo đối với người bị hại, anh H cũng có lỗi. Do vậy, cần xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 “bị hại xin”, “người bị hại cũng có lỗi”, “đầu thú” được quy định tại điều 51 BLHS là phù hợp. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không. Tuy nhiên với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nên cho dù có xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đến đâu, cũng cần phải buộc bị cáo cách ly xã hội trong thời gian nhất định mới đủ đảm bảo tính giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

Trong vụ án này, Nguyễn Anh H đã có hành vi dùng chân tay đánh S nhưng không gây thương tích gì nên Công an huyện K đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 214/QĐ-XPHC ngày 07/8/2018 đối với H là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra,bị cáo đã tác động với gia đình đã tự nguyện bồi tH thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại. Bị hại không yêu cầu Tòa án giải quyết gì thêm, nên không đặt ra việc giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với con dao S dùng để thực hiện hành vi phạm tội, sau khi sử dụng S đã vứt đi, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được nên không đặt ra việc giải quyết trong vụ án là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban tH vụ Quốc Hội quy định về mức thu nộp án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội về mức thu nộp án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 27 tháng tù, thời hạn được tính kể từ ngày bắt tạm giam 30/5/2018.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn S phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: ¸n xö s¬ thÈm c«ng khai có mÆt bÞ c¸o, vắng mặt bị hại. Tòa án báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. N¬i nhËn:

Cỡ chữ