vanban.org

Bản án 94/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn A. Cho anh A được ly hôn với chị Tô Thị U.

Đình chỉ yêu cầu của anh A về việc giải quyết nuôi con chung sau khi ly hôn. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh A phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009683 ngày 29 tháng 3 năm 2018 của … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn A. Cho anh A được ly hôn với chị Tô Thị U.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2018/HNGĐ-ST
Ngày 14 – 5 – 2018
V/v tranh chấp ly hôn
và nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Càn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà.

Ông Châu Hải Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 14 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2018/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn A; cư trú tại: Ấp B, xã P, huyện P1, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

- Bị đơn: Chị Tô Thị U; cư trú tại: Ấp T, xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 3 năm 2018 và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn là anh Nguyễn Văn A thể hiện:

Về hôn nhân: Anh và chị Tô Thị U tự nguyện chung sống với nhau vào ngày 26 – 27/01/2012 âm lịch và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Khi về chung sống, do bất đồng quan điểm, không thể chung sống hạnh phúc nên đã làm đơn thuận tình ly hôn vào ngày 18/11/2017. Nay anh nhận thấy giữa vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không còn đạt được và không thể quay lại chung sống nên anh xin ly hôn với chị U.

Về con chung: Có 01 người tên Nguyễn Như Y, sinh ngày 25/12/2012 do chị U đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh đồng ý giao Như Y cho chị U nuôi, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.

Tại phiên tòa, anh A rút lại yêu cầu về giải quyết nuôi con chung, anh sẽ thỏa thuận với chị U trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và nợ: Không có.

* Đối với bị đơn là chị Tô Thị U: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đến tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng chị không đồng ý nhận và chị không tham gia các phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử (có biên bản kèm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Tô Thị U có ý kiến không tham gia việc xét xử tại Tòa án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị U là đúng quy định pháp luật.

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn A và chị Tô Thị U tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012 và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Theo anh A, khi về chung sống, xảy ra bất đồng quan điểm nên đã làm đơn thuận tình ly hôn. Do vậy, anh nhận thấy giữa vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không còn đạt được và không thể quay lại chung sống nên anh xin ly hôn với chị U. Chị U không có ý kiến gì về yêu cầu xin ly hôn của anh A.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh A, thấy rằng: Với mâu thuẫn như anh A đặt ra nhưng chị U không có ý kiến gì về yêu cầu xin ly hôn của anh A và không có thiện chí tham gia việc hòa giải, xét xử tại Tòa án; mặt khác, anh A và chị U đã làm đơn thuận tình ly hôn vào ngày 18/11/2017 (có đơn kèm theo); điều đó cho thấy, hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh A ly hôn với chị U là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về con chung: Có 01 người tên Nguyễn Như Y sinh ngày 25/12/2012. Khi ly hôn, anh A thống nhất giao Như Y cho chị U tiếp tục nuôi, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra. Do chị U không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh A về vấn đề này nên anh A rút lại yêu cầu về giải quyết nuôi con chung, anh sẽ thỏa thuận với chị U trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thấy rằng, việc anh A rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ đối với yêu cầu mà anh A đã rút là phù hợp và đúng quy định của pháp luật. Trường hợp có phát sinh việc tranh chấp việc nuôi con sau khi ly hôn sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Về tài sản và nợ: Theo anh A xác định không có; chị U không có ý kiến gì về vấn đề này nên không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh A phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn A. Cho anh A được ly hôn với chị Tô Thị U.

- Đình chỉ yêu cầu của anh A về việc giải quyết nuôi con chung sau khi ly hôn.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Anh A phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009683 ngày 29 tháng 3 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ