- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông L yêu cầu ly hôn với bà D"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 94/2018/HNGĐ-ST Ngày: 19-6-2018 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tới.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Phước Công.
Ông Võ Lâm Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Ông Tôn Văn Xuyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 72/2018/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2018 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Cao Trí L, sinh năm 1981. (có mặt)
Cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Bà Dương Thị Kiều D, sinh năm 1981. (vắng mặt)
Cư trú: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, biên bản không hòa giải được và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Cao Trí L trình bày: Ông và bà D chung sống với nhau vào năm 2003, có đăng ký kết hôn, hôn nhân do tự tìm hiểu. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là vấn đề tài chính, vợ chồng cãi nhau, vợ bỏ đi về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay không tới lui thăm nhau. Gia đình hai bên có dàn xếp nhưng không được. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với bà Dương Thị Kiều D.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Cao Thị Diễm T, sinh ngày 11/5/2004 và Cao Thị Diễm L1, sinh ngày 28/3/2006. Hiện cháu Thi và cháu L1 đang sống chung với ông L. Khi ly hôn, ông yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu vợ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ bà Dương Thị Kiều D đến Tòa án để tham gia phiên họp về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà D vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa, ông L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: Mâu thuẫn giữa anh L và chị D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, trong thời gian ly thân, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không được và cả hai không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên anh L yêu cầu ly hôn đối với chị D là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Cao Thị Diễm T, sinh ngày 11/5/2004 và Cao Thị Diễm L1, sinh ngày 28/3/2006, hiện đang sống chung với ông L. Khi ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện tại cháu Thi và cháu L1 đang sống với anh L phát triển bình thường và được chăm sóc tốt, hơn nữa cháu L1 và cháu Thi có nguyện vọng được sống với anh L. Để đảm bảo cho các cháu có điều kiện được phát triển và ổn định cuộc sống, nghĩ nên để anh L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L1 và cháu Thi phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị D không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đề cập giải quyết.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Ông Cao Trí L khởi kiện bà Dương Thị Kiều D, bà D cư trú ấp N, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, phù hợp theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Dương Thị Kiều D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D.
. Về hôn nhân: Ông L và bà D sống chung với nhau vào năm 2003, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa ông L, bà D là hợp pháp. Quá trình chung sống do ông, bà bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Ông L và bà D ly thân từ năm 2006 đến nay không tới lui thăm nhau, như vậy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung giữa ông L và bà D không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, ông L xác định tình cảm không còn. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của ông L là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Cao Thị Diễm T, sinh ngày 11/5/2004 và Cao Thị Diễm L1, sinh ngày 28/3/2006. Hiện cháu Thi và cháu L1 đang sống chung với ông L. Khi ly hôn, ông yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu vợ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của con chưa thành niên, hiện nay cháu T và cháu L1 sống ổn định với ông L vẫn phát triển tốt về thể chất và tinh thần, cháu T và cháu L1 cũng có nguyện vọng sống với cha. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu T và cháu L1 cho ông L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với bà D.
. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
. Về nợ chung: Ông L xác định không có nên không đề cập giải quyết.
Ghi nhận ông L xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của ông L và bà D thì ông, bà phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Về hôn nhân: Ông Cao Trí L được ly hôn với bà Dương Thị Kiều D.
[2]. Về con chung: Ông Cao Trí L được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Cao Thị Diễm T, sinh ngày 11/5/2004 và Cao Thị Diễm L1, sinh ngày 28/3/2006. Hiện cháu T và cháu L1 đang sống chung với ông L.
Ông L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu, không đề cập giải quyết.
[4]. Về nợ chung: Không có, không đề cập giải quyết.
[5]. Về án phí: Ông Cao Trí L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0019167 ngày 29/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thành Tới |